Thứ Ba, 1 tháng 4, 2014

ĐỀN THƯỢNG Ở TÂY THIÊN



ĐỀN THƯỢNG Ở TÂY THIÊN

LÊ KIM THUYÊN

Từ đền Cô theo con đường độc đạo đi lên, là đường dẫn đến ngôi đền ở vị thế cao nhất trên lưng chừng ngọn Thạch Bàn, ấy là đền Thượng Tây Thiên.

Gọi là “Tây Thiên” với nghĩa “Trời Tây” là để cùng nghĩa với Tây Trúc là nơi ngự của Phật. Tây Thiên ở đây là cái nôi của Phật giáo Việt Nam.

Nhưng Tây Thiên cũng để chỉ là bầu trời tây cuả kinh thành Thăng Long, nơi quốc gia Đại Việt của nhà Lý đầu tiên định đô, là bao hàm một quốc gia có chính thể tự cường. Tây Thiên Tam Đảo là bức trường thành phên dậu ở phương Tây của kinh đô ấy.

Ngôi đền Thượng (gọi là đền Thượng vì ngôi đền có độ cao nhất trong hệ thống) thờ bà Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu 凌 氏 椒. Tự điển nhà Lê năm 1763 chép rõ ràng: “ Xem trong quốc sử” và sách “ Lĩnh Nam chích quái”, Tam Đảo là dãy núi giữa núi Tổ của nước Nam ta… Thần núi họ Lăng, tên là Tiêu, lại có tên nữa là bà Cẩm Giang, là người thôn Đông Lộ, huyện Tam Dương. Thần do tinh tuý tốt đẹp của đỉnh cao nhất núi Tam Đảo mà sinh ra, cốt cách chẳng phải tầm thường, theo giữa vực sâu mà biến hoá, thoát ẩn, thoắ hiên, linh ứng lớn lao rõ ràng…..Đến nay nước, cầu dân cúng đều theo nguyện vọng mà đáp lại.

Các sách Địa chí cổ nước ta chép ở mục “Đền miếu” ( trong cả nước rằng) về ngôi đền Tây Thiên như sau: Ở xã Sơn Đình, huyện Tam Dương, không biết có từ năm nào. Có pho tượng đồng đến nay vẫn còn.”

“ Tương truyền: Nước ta ở thời thuộc Minh ( 1407-1427), có người họ Lưu,tên là Nhân Chú và Phạm Cuống đi buôn dầu từ Thái Nguyên đi qua đây, đêm vào ngủ trọ trong đền, thần được báo mộng cho biết việc Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn.Tỉnh dậy, hai ông liền tìm vào theo Lê Lợi đánh giặc Minh. Sau ngày thắng lợi, hai ông được phong công thần. Biết thần hiển linh giúp đỡ, mới xin vua phong cho Thần là “ Trụ Quốc Thái phu nhân thượng đửng thần”. Các đời Minh Mệnh (1820-1840), Thhiệu Tri( 1841-1847) đều sắc tặng là “ Trấn an, Trợ thuận, Tĩnh trọng Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Thái phu nhân chi thần”.

Đền toạ lạc trên độ cao 530m so với độ cao mực nước biển trên ngọn Thạch Bàn cao 1585m, là ngọn cao nhất trong 03 ngọn núi quần tụ lại như 03 hòn đảo bồng bềnh trong mây nên gọi là Tam Đảo. Bởi vậy mà danh sĩ Cao Bá Quát mơi có câu thơ định vị “Độc cao phong bán thị Tây Thiên” 獨 高 峰 半 是 西 天 (chừng cao nửa ngọn ấy Tây Thiên).

Từ cửa rừng (đền Thỏng) đi lên, theo chỉ dẫn của người địa phương, theo lối cũ phải vượt qua 05 quả núi mới tới. Cách xa độ 6-7 cây số lội suối trèo đèo. Ngày nay đã có đường, có bậc bằng đá lát bê tông. Từ năm 200 có hệ thống xe điện từ Đền Thỏng lên đến ga cáp treo đầu tiên ở khu vực Đền Cậu dãn đến Đền Thượng.

Sự tích về bà Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu còn được chép trong ngọc phả Hùng Vương ở thời đại thứ 07 Hùng Chiêu Vương như sau:

Buổi đầu lên ngôi. Nhà vua nghiêm khắc chuyên về chính trị.Bãi bỏ khí giới, không dùng việc quân, chăm lo sức dân, mở mang nền giáo hoá để mở mang trí tuệ. Đúc kiếm báu,( Thiên linh kiếm), ấn báu( Thiên linh ấn) làm báu vật của quốc gia, để giữ yên cho xã tắc vững bền mãi mãi.

Từ đó trong nước không còn mối lo, triều đình yên tĩnh.

Các quan bề tôi thấy vậy mới dâng lên nhà vua lời tâu rằng:

- Nghe đồn trên núi Tam Đảo có nhiều các vị Tiên đến hội.

Nhà vua vốn là người rất coi trọng việc quỷ thần nên nghe lời, mở cuộc kinh lí lớn để cùng đến xem xét phong cảnh. Thế rồi đoàn quan quân từ kinh thành Phong Châu, ngựa xe nườm nượm lên đường.


Lễ hội Tây Thiên 2014



Khi đi đến nơi mới thấy nơi đây quả là núi non thật đẹp như gắm, như vóc. Như hàng nghìn các lâu đài lớp lớp sáng loá. Vách núi xanh biếc, dòng suối trong xanh, muôn lớp trên mặt nước lăn tăn gợn sóng. Hoa cỏ đua chen, cảnh trí tươi đẹp. Nho nhỏ nơi đầu núi có một ngôi chùa tên gọi Tây Thiên.

Thế rồi, nhà vua cho dựng đàn tràng, soạn sửa lễ chay sai các quan bề tôi làm lễ triều yết.

Rồi nhà vua vào làm lễ yết. Lập đàn ở nơi đầu núi, mở hội 07 ngày 07 đêm để cho trai gái 04 phương về dự hội vui. Lại đến chùa Phù Nghì lập vọng Tiên đàn, câu trời đất mong được gặp Tiên.

Nhà vua sớm “đảo” (cầu phúc với thần linh), tối “ cầu” ( xin). Cả chim chóc nơi núi rừng cũng được nghe đọc kinh, cá lội dưới khe cũng đến nghe giảng kệ.

Việc công đức được tròn quả, nhà vua lại đến núi Thạch Bàn để xem xét cảnh Tiên. Mới thấy rằng ở nơi non nước một bầu chẳng khác nào như toạ lạc vào chốn bồng lai. Rồi nhà vua lại đến chùa Phù Nghì lập ra Vọng Sơn đàn, lập triều đình uy nghi để cầu đức Hoàng thiên.

Nhà vua vào làm lễ rồi quỳ khấn rằng:

- Nguyện có trời đất xét soi, nay nếu gặp được Thần Tiên thì quả đã cho kiếp ba sinh được tròn hưởng yên vui vậy.

Khấn xong, nhà vua làm lễ bái tạ, rồi ở lại đó 03 ngày. Vậy mầ Thần Tiên vẫn chẳng thấy. Nhà vua bồi hồi lo lắng không rõ vì sao lễ lại không thành, mới đến ngự ở đầu núi rồng dựng đàn “ Vọng Tiên”, bền lòng lầm rầm khấn vái.

Đêm ấy, thấy có thần linh mách bảo:

- Người mà nhà vua cầu mong đang ở phía tây núi lớn, nếu trở lên thì không gặp được. Cứ đi về xuôi thì sẽ gặp. Cứ đến chân núi sẽ gặp người ở cửa rừng. Nhà vua còn được nghe thần đọc 04 câu thơ rồi mới trở ra về.

Quả nhiên trên đường trở về, đến dưới chân núi thì bắt gặp một người con gái xinh đẹp, vóc dáng lạ thường, đang đứng cạnh ngôi miếu bên đường để xem nhà vua giá ngự.

Nhà vua vừa lòng về sắc đẹp, mới nhận đem về cung. Rồi xa giá trở về đô thành Phong Châu lập làm chính vương phi.

Chưa đầy 01 năm sau thì Ngọc Tiêu có thai sinh được 01 con trai, phẩm chất thông minh, tài năng vượt trội. Đến tuổi trưởng thành, lập làm Hoàng thái tử để nối ngôi lớn, đặt làm Hùng Vĩ Vương. 

Khi Bà mãn hạn dưới trần gian theo lệnh Ngọc Đế về giời, nhân dân nhớ ơn mới lập lên ngôi chính điện thờ bà ở nơi vua Chiêu vương lập đàn câu Tiên làm nơi thờ cúng. Về sau gọi là Đền Thượng Tây Thiên.

Ở đó về sau, nơi ấy có rất nhiều cặp vợ chồng hiếm con đến cầu tự. Trở thành một chốn thiêng liêng cầu đường tử tức.

Bởi vây, theo sau Vua Hùng thứ 07, có hai vợ chồng ông Trương Bang, người hương Gia Cát ( nay là khu đầu cầu Việt Trì thuộc phường Bạch Hạc) do hiếm hoi, đã bơi thuyền ngược dòng sông Đáy, lên cầu tự ở đền Tây Thiên. Rồi sinh được con trai là Trương Định Xá, khi lớn lên trở thành vị Tả tướng quân chỉ huy sứ dưới triều vua Hùng Duệ thứ 18. Là người lập làu kén rể cho vua Duệ, để công chúa Ngọc Hoa con gái vua sánh duyên cùng với chàng Tản Viên, rồi lại cùng với Tản Viên có công trong cuộc chiến tranh Hùng Thục. Được phong thực ấp ở khu Tây, nay là 02 làng Tây thượng xã Liên Hoà và làng Tây Hạ xã Bàn Giản huyện lập Thạch. Nay 02 làng vẫn thờ cúng ông.

Ngày 10 tháng 02 năm Ất hợi (năm 555) Triệu Việt Vương Quang Phục cùng với 02 tướng thân tín là Trương Hống, TRương Hát, sau trận đánh ở thành Ô Diên( làng Hạ Mỗ huyện Từ Liêm Hà Nội),cũng đã ngược dòng sông Đáy lên Tây Thiên làm lễ tế cáo trời đất, cầu bình yên. Nay còn di tích thờ cúng ở miếu Bì La xã Đồng Ích có thần tích làm minh chứng.

Cưôi thế kỉ XIV, có ông bà Trần Án, hậu đuệ băng Hồ tướng công Trần Nguyên Đán, tể tướng triều vua Trần Nghệ tông ( 1370-1372) là Trần Án cũng từ ấp Đông Sơn ( nay là xã Sơn Đông huyện Lập Thạch), do muộn đường tử tức, cũng đã lặn lội lên Tây Thiên cầu tự. Rồi về sinh ra Trần Nguyên Hãn. Lớn lên trở thành bậc khai quốc công thần dưới triều vua Lê Thái tổ, được phong tả tướng quốc, nay còn đền thờ ở xã Sơn Đông.

Tiền sử, vào thời hoang sơ di tích chỉ là bệ cúng trong chùa Tây Thiên. Về sau trở thành ngôi miếu do xã Sơn Đình phụng sự. Đến triều Lê, cùng với đợt tu sửa chùa Tây Thiên thì được mở mang thêm. Vì lâu đời như thế nên nhiều chỗ đổ nát. Trong khi ấy, nhân dân xã Sơn Đình không có lực để tu sửa. Bởi vậy vào năm Bảo Đại thứ 12 ( năm Đinh sửu 1937) có một gia đình hiếm con ngưòi xã Liễn Sơn huyện Lập Thạch là Hà Trọng Tuy đã xin với dân để tập phúc sửa chữa lại. Chữa theo lối mới, lợp ngói Hương Canh( song cầu). Được ngôi thượng điện, làm đền và chùa liền nhau ( chung đốc). 

Trong thượng điện có 03 pho tượng.Bài trí trên long ngai cùng pho tượng Mẫu của dân xã thờ thì sơn son, có viết hàng chữ thánh tâm. Toạ bên phải có pho tượng bằng đồng của ông Đặng Đình Thiêm người xã Vân Nhưng huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Yên cung tiến. Pho tượng gỗ toạ ở bên trái chưa sơn, là của xã Đại Lữ cung tiến thì đều không có chữ “ thánh tâm”. Đó là các tự khí trong thượng điện theo kiểm kê vào năm 1938. 

Đến năm 1991,là năm khu di tích danh thắng Tây Thiên được xếp hạng, đón bằng di tích cấp Quốc gia , tại trước thượng điện trong đền đã có bức hoành 03 chữ Hiển Thánh Tích (sự tích vị thánh có danh vọng) cùng đôi câu đối:

東 之 兩 睿 世 南 邦 吾 國 母

仙 而 聖 扶 雄 滅 蜀 顯 神 功

Đông chi lưỡng Duệ thế, Nam bang ngô Quốc Mẫu.

Tiên nhi thánh phù Hùng, diệt Thục hiển Thần công.

Nghĩa là:

Chủ ở thời hai lần vua Duệ, cõi nam ta có bà Quốc Mẫu.

Là Tiên, cũng là Thánh, giúp nhà Hùng, diệt nhà Thục công thần rõ ràng.

Gọi là hai lần vua Duệ vì khi về già, vua nhường ngôi cho con trưởng là Kinh vương. Được 06 năm thì Kinh vương mất, lại truyền ngôi cho con rể là Tản Viên. Tản Viên làm vua 10 năm, bèn trả lại ngôi cho Duệ Vương. Duệ Vương có 02 lần mà vua ( phục vị) nên gọi là “lưỡng Duệ”.

Do ngôi đền lập năm 1937 với quy mô kiến trúc đơn giản, đã xuống cấp nghiêm trọng, nên đến tháng 11 năm 2009 ngôi đền được UBND tỉnh Vĩnh Phúc đầu tư lớn, xây dựng lại trên nền cũ rất bề thế, khang trang bằng chất liệu xi măng bê tông kiên cố. Cùng toạ lạc trên cùng một độ cao, cùng với chùa Tây Thiên và các công trinh mới có như Tháp mộ các nhà sư, miếu Sơn thần, đền Mẫu Thượng hoàng thiên tạo thành một quần thể di tích có một không hai trong dãy núi Tam Đảo.

Do có bề dầy công đức với nước với dân, tình nghĩa ân sâu ngày càng được thể hiện qua từng ý, từng chữ trong các bức hoành phi, câu đối cung tiến thêm lên mới đây có ở đền.

Trong đền có các bức hoành phi ca ngợi công đức Quốc Mẫu như:, 

國 母 靈 祠

Quốc Mẫu linh từ. 

Nghĩa là: Đền thiêng Quốc mẫu.

天 聖 降 塵

Thiên thánh giáng trần.

Nghĩa là: Thánh trên trời xuống trần.

母 儀 千 古

Mẫu nghi thiên cổ.

Nghĩa là: Có dáng làm Mẹ từ ngàn xưa.

西 天 靈 祠

Tây Thiên linh từ.

Nghĩa là: Đền thiêng Tây Thiên.

山 柱 大 王

Sơn trụ đại vương

Nghĩa là: Đại vương cây cột của núi.

西 天 國 母

Tây Thiên Quốc Mẫu.

Nghĩa là: Quốc Mẫu ở Tây Thiên.

金 枝 演 派

Kim chi diễn phái.

Nghĩa là: Thuộc về lá ngọc cành vàng.

玉 葉 流 芳

Ngọc diệp lưu phương.

Nghĩa là: Cành vàng lá ngọc để lại tiếng thơm.

Tượng Quốc Mẫu Tây Thiên

Cùng các đôi câu đối ngợi ca: 

為 僊 為 佛 為 國 王 生 化 三 身 留 事 跡

有 洞 有 湖 有 天 帝 江 山 一 帶 表 奇 觀

Vi Tiên, vi Phật, vi Quốc vương, sinh hoá tam thân lưu sự tích

Hữu động, hữu hổ, hữu Thiên đế, giang sơn nhất đái biểu kì quan.

Nghĩa là:

Bởi Tiên, bởi Phật, bởi vua, sinh hoá ba lần thân còn dấu.

Vừa hồ, vừa động, vừa vua trời, non sông một giải lạ lùng.

Trong điện tượng là một bà dáng vóc quyền quý, mặt hoa da phấn, cổ cao ba ngấn, đầu đội “vương miện”, toạ trong long ngai, tay trái đặt lên gối, tay phải cầm quạt tiên trong dáng “thiết triều” của bậc “chính hoàng phi”.

Xứng với các đôi câu đối:

聖 母 靈 通 天 本 降 塵 權 第 一

皇 天 敕 命 地 靈 顯 聖 帝 無 雙

Phiên âm: 

Thánh Mẫu linh thông thiên bản giáng trần quyền đệ nhất.

Hoàng thiên sắc mệnh địa linh hiển thánh đế vô song.

Nghĩa là:

Thánh Mẫu linh thông vốn giời xuống trần quyền bậc nhất.

Giời cao sắc mệnh đất thiêng hiển thánh đế không hai.


退 敵 助 神 功 南 國 山 河 猶 所 在

安 南 留 聖 德 雄 朝 苗 裔 到 于 今

Phiên âm.

Thoái địch trợ thần công, Nam quốc sơn hà do sở tại.

An Nam lưu thánh đức, Hùng triều miêu duệ đáo vu kim.

Nghĩa là: 

Công thần giúp làm giặc lui, sông núi nước Nam là ở đó.

Ơn Thánh cõi Nam còn lại, dòng dõi triều Hùng đến nay.


國 泰 民 安 心 積 善

母 儀 世 度 史 留 傳

Phiên âm.

Quốc thái dân an tâm tích thiện

Mẫu nghi thế độ sử lưu truyền.

Nghĩa là:

Quốc thái dân yên nhờ lòng tích thiện

Mẫu nghi cứu giúp đời, lịch sử còn truyền.


西 天 繼 世 安 邦 榮 國 母

先 而 扶 雄 滅 蜀 顯 神 功

Phiên âm.

Tây Thiên kế thế an bang vinh Quốc Mẫu

Tiên nhi phù Hùng diệt Thục hiển thần công.

Nghĩa là:

Tây Thiên nối đời nước được yên, vẻ vang Quốc Mẫu

Trước giúp nhà Hùng, diệt nhà Thục công thần rõ ràng. 

Trong một năm, ở đền Thượng Tây Thiên nói riêng và ở xã Sơn đình nói chung (gồm 02 thôn Lan Thông và Khổn Thông) có 04 ngày tiệc lệ sự thần. 

- Ngày 15 tháng 02.

- Ngày 28 tháng 02.

- Ngày 01 tháng  03.

- Ngày 14 tháng 05.

    Từ lâu lắm rồi, ngày 15 tháng 02 trở thành ngày lễ hội truyền thống ở Tây Thiên hàng năm, gọi là lễ hội chính. Còn riêng thì ngày nào cũng vậy, cứ vào tháng giêng, tháng 02, tháng 03 khách thập phương lên lễ đền đông lắm. Mọi người từ các tỉnh xa nườm nượp đến lễ đền Thượng Tây Thiên. Cầu tự , cầu lộc, cầu tài cho bản thân và cho gia đình trong năm. 

     Ngày nay, khu di tích lịch sư- văn hoa Tây Thiên gồm 04 khu vực đền Trình (đền Thỏng), đền Cậu, đền Cô đền Thượng Tây Thiên có ban Quản lí riêng trực thuộc UBND huyện Tam Đảo điều hành. Lễ hội truyền thống ngày 15 tháng 02 do UBND huyện Tam Đảo tổ chức trong 04 ngày. Ngày 15 khai mạc cuộc lễ. Trung tâm lễ hội đặt ở trước cửa đền Thỏng. Nghi lễ gồm có: Rước kiệu Văn khởi từ đền Mâũ Sinh thôn Đông Lộ, khi qua đền Ngò, thôn Lan Thông hợp với kiệu Thánh Quốc Mẫu thành đoàn rước lớn tiến vào trung tâm lễ hội với đầy đủ các loại cờ hội, đồ lỗ bộ, chiêng trông và phường nhạc bát âm. Điều hành cuộc mít tinh khai mạc là do UBND huyện Tam Đảo tổ chức. Sau nghi lễ mít tinh, là tổ chức các trò hội dân gian của 02 dân tộc Kinh và Sán Dìu cho tới ngày kết thúc lễ hội.

     Tháng 11 năm 2009 ngôi đền được đầu tư lớn, xây dựng lại rất khang trang bề thế. Bên cạnh đền Thượng còn có cùa Tây Thiên cũng mới đước xây dựng, cùng các ngôi đền miếu mới xuất hiện là miếu Sơn Thần, đền Mẫu Thượng Hoàng Thiên (đền Địa Mẫu), tháp mộ ba vị Thiền sư, tạo thành một quần thể di tích trên lưng chừng núi Thạch Bàn.

     Đền Thượng thờ Quốc Mẫu Tây Thiên tới đây ở giai đoạn 02 sẽ được tu bổ Phủ Mẫu thờ Tam Toà Thánh Mẫu và Mẫu Liễu Hạnh, sẽ xây dựng mới hoàn toàn với kết cấu bê tông giá gỗ, trên diện tích 120m2, mặt bằng chữ “Đinh” 05 gian. Hình thức kiến trúc giá chiêng chồng giường, một tầng mái dao mác. Đồng thời triển khai quy hoạch với một số nhân tố mới như nhà tả hữu mạc, lầu thiêu hương, hoá vàng. Có cảnh quan sân vườn đẹp đẽ. 



Sơn Đông tháng 4 năm 2014.

LKT

Địa chỉ: Thôn Quan Tử xã Sơn Đông huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc.

ĐT: 02113828069.

DĐ: 0984550547.





Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2014

ĐỀN THỎNG TÂY THIÊN

          
 Còn gọi là đền TRÌNH 呈vì trước khi trèo núi, băng rừng, vượt suối lên đền Thượng Tây Thiên lễ Mẫu, mọi người đều vào một ngôi đền toạ lạc ở chân núi Thạch Bàn thuộc điạ phận thôn Khổn Thông, xã Sơn Đình tổng Quan Ngoại, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Yên xưa ( nay thuộc xã Đại Đình huyện Tam Đảo) làm lễ với ý nghĩa là một sự trình báo trước về việc “đăng sơn”, vốn có nguồn gốc cổ xưa là nơi cử hành lễ mở cửa rừng của những người xoan tràng và những phường săn trước khi vaò rừng khai thác. Đó là một sự “giữ lễ”.
Vì Quốc Mẫu ngự ở ngôi đền cao trên lưng chừng núi Thạch Bàn, cách xa nơi cửa rừng chừng 6 – 7 cây số đèo dốc hiểm trở nên một nhu cầu “ chắc chân mạnh tay” để cuộc đi được hanh thông là niềm ước vọng, mong sao cho suốt cả một cuộc đường dài. Đó là niềm tin được gửi gắm.
Lại nữa, muốn vào nơi cửa Mẫu ở trên núi cao, đường vào là “độc đạo” ( chỉ có một đường) qua hai thôn của xã Sơn Đình 山亭là Lan Thông 闌通và Khổn Thông 閫通. Viết theo tự dạng chữ Hán, chữ “Lan” nghĩa là “ Cánh cửa”, cũng có nghĩa là sự cách trở. Chữ Lan Thông có nghĩa là qua cửa lớn (cửa có cánh). Chữ “Khổn” có nghĩa là cửa buồng, giới hạn trong cửa nơi ở của giới nữ. Lan Thông và Khổn Thông có nghĩa là để tới được cửa Mẫu phải qua hai lần , cửa ngoài thoáng rộng và cửa trong kín đáo. Qua cửa thì phải “ Trình” cho có phếp tắc. Bởi vậy ngôi đền ở thôn Khổn Thông có nghĩa là đền Trình là do vậy.
Lại theo sách “ Nam Việt Thần Kì Hội Lục” 南越神衹會錄 chép vào đời Lê Cảnh Hưng  năm thứ 24 ( 1763) thì nơi đây còn mang địa danh là “ Sơn Khổn”, với nghĩa là “ cửa núi”, cũng tức là “ cửa rừng” nghĩa như nhau, còn mang dấu tích của tục lệ “lễ mở cửa rừng” vào dịp khai thác đầu năm. Chữ “ Trình” còn có ý nghĩa là như vậy.
 Ngôi đền này cũng có tục danh là đền “THỎNG” (Xem văn bản có ở Viên Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội AJ 1/11), (Trong một số văn bản hành chính ở tỉnh Vĩnh Phúc chép là “Đền THÕNG” là phiên âm sai.) vì theo như lời khai của lí dịch xã Sơn Đình năm 1938 thì “đời xưa có thôn Lan Thông nên gọi là đền THỎNG”. Lan Thông thời kì đó bao gồm cả thôn Khổn Thông đời sau. Ngôi đền có hai tên gọi với hai ý nghĩa khác nhau.
* Gọi là Đền Trình, với khách hành hương lên núi lễ Mẫu.
            * Gọi là đền Thỏng là dựa vào ý nghĩa địa hình.
Đền Thỏng ngày nay
Đền Thỏng ngày nay


Ngày nay thôn này vẫn còn gọi là Khổn Thông, ở phia trước có cánh đồng làng mang địa danh là Đồng Thỏng.
Cũng theo văn bản kiểm kê cũ, thì “Đền Thỏng thôn Sơn Đình thờ vị TAM ĐẢO SƠN TRỤ QUỐC MẪU 三島山柱國母”, là một trong 54 danh sách thờ cúng bà ở tỉnh Vĩnh Phúc. Trong đền có một bản thần tích vị Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Mẫu sao lại của đền Long Đậu xã Định Trung vào năm Bảo Đại năm thứ 12 (1937), gồm có 06 tờ (tờ đúp) chữ viết mỗi mặt 08 hàng.
           Về kiến trúc, đền xưa là một cái nhà có 02 gian thờ dọc không có đục chạm gì đẹp, nhưng làm đã lâu đời , xếp vào hàng cổ tích. Câu đầu có đề hàng chữ “Giáp tuất niên trùng tu”甲戌年重修, nhưng chưa rõ là Giáp tuất nào. Trên ban thờ có một cỗ long ngai đặt pho tượng Thánh Mẫu.
          Đền cũ đã mất, nay được xây dựng lại mới trên cũ vào năm 1998, có cấu trúc lối chữ “đinh”, gồm toà đại bái 03 gian, mái lợp 02 tầng theo lối 04 mái; phần hậu cung gồm 01 gian hai chái chồng diêm hai tầng 08 mái, trên ban đặt cỗ long ngai có pho tượng Quốc Mẫu.
           Nhà đai bái, có bức hoành 04 chữ TÂY THIÊN QUỐC MẪU 西天國母, cùng đôi câu đối:
          國 母 威 靈 財 祿 至
          愿 求 得 意 子 尋 來
          Quốc Mẫu uy linh tài lộc chí
          Nguyện cầu đắc ý tử tầm lai.
Nghĩa là:
          Quốc Mẫu oai linh tài lốc đến
          Nguyện cầu được ý con dân tìm đến.
          Cũng còn 04 đôi câu đối nữa được treo ở đây.

Câu 01.
          福等河沙作福自然得福
          功垂萬世興工便見成功
          Phúc đẳng hà sa, tác phúc tự nhiên đắc phúc.
          Công thuỳ vạn thế, hưng công tiện kiến thành công.
Nghĩa là:
          Phúc nhiều như cát sông, làm phúc tự nhiên được phúc.        
          Công ơn bao khắp muôn đời, khởi công sẽ thấy thành công.
Câu 02.
南國太平心慈善
母靈留史度眾生
          Nam quốc thái bình tâm từ thiện
          Mẫu linh lưu sử độ chúng sinh.
Nghĩa là:
          Nước Nam thái bình , lòng từ thiện.
          Mẫu linh thiêng lưu sử sách, cứu vớt chúng sinh.

Câu 03.
石路傅西天靈地存名仙降
高山登扶儀古臺記為西天
          Thạch lộ phó Tây thiên, linh địa tồn danh Tiên giáng.
          Cao sơn đăng Phù Nghì, cổ đài kí vị Mẫu nghi. 
Nghĩa là:
 Đường đá tới Tây thiên, đất thiêng còn ghi việc Tiên giáng
 Núi cao lên chùa Phù Nghì, đài xưa con ghi “ Mẫu Nghi Thiên Hạ”

Câu 04.
八節四時尊奉事
三朝黎阮敕頒封
          Bát tiết tứ thời, tôn phụng sự
          Tam triều Lê Nguyễn, sắc ban phong.
Nghĩa là:
          Bốn mùa tám tiết, đều được tôn thờ, thờ cúng.
          Ba triều Lê Nguyễn, có sắc ban phong.
Đó đều là các đôi câu đối của ngày nay, do tấm lòng chân thành mà cung tiến sau năm dựng lại đền.
          Phần dưới toà thượng điện (hạ ban) bài trí các ban thờ về Mẫu Tứ Phủ như ban CÔ, ban CẬU, ban Mẫu Thoải, ban Mẫu Sơn Trang, ban Ngũ Hổ. các loại nón thờ, rắn thờ. Là những thiết chế thờ tự thuộc về điện Mẫu Tứ Phủ.
Trong toà tiền tế còn treo quả chuông có tên là “ Phù Nghì Tự Chung” 扶儀寺鐘 nghìa là chuông chuà Phù Nghì, của chùa Phù Nghì trên núi Phù Nghì, do ngôi chùa đã đổ nát, nên người dân đã di về và đặt tại đây. Chuông được đúc vào đời vua Nguyễn Hiến Tổ, niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 02 (1842). Trong đền cũng còn có chiếc khánh đồng có ghi hàng chữ Tam Đảo Sơn 三島山 ở mặt trước, mặt sau ghi ngày 13 tháng giêng năm thứ 02 nhưng không ghi rõ về đời vua nào. Có lẽ là ngày tạo lập, Nội dung chiếc khánh chủ yếu là ghi danh sách các hội chủ ở các nơi về cung tiến.
Ngoài sân đền có tấm bia đá 04 mặt, có nội dung
* Mặt 01 có tên bia “Tam Đảo Linh Sơn”三島靈山, ghi về hình thế cảnh quan núi Tam Đảo, viết vào năm Bảo Thái thứ 05 đời vua Lê Dụ Tông (1723).
          * Mặt 02 có tên bia “Thạch Lập Bi Kí” 立石碑記, nội dung chép về công việc dựng tấm bia đá này, được viết vào ngày tốt lành hạ tuần tháng 04 năm giáp thìn, niên hiệu Bảo Thái năm thứ 05 (1723).
* Mặt 03 có chữ đề “Tây Thiên Thiền Tự” 西天禪寺 là những dòng viết về chùa Tây Thiên trên núi Thạch Bàn 石磐. Đó là nơi cổ tích danh lam đứng đầu nước Nam, linh ứng hiển hiện, cầu được ước thấy.
Bia tứ diện ở Tây Thiên



* Mặt 04 có chữ đề “ Thập Phương Hội Chủ” 十方會主 là ghi chép về danh sách những người có công đứng ra tu tạo Trong đó thấy có nhiều danh sách các vị họ Lăng, là họ của người Kinh trong khu vực này, ( Cũng nên chú ý là dân tộc Sán Dìu không có họ Lăng. Họ Lăng của người Sán Dìu ở thôn Đông Lộ hiện nay là từ họ Diệp đổi sang theo họ của Quốc Mẫu.) cùng khắp nơi trong cả nước tổng cộng khoảng 400 người cùng nhau đóng góp công đức tiếp tục tu sửa chùa. Trong đó hàng hoàng gia có cả Đệ nhị công chúa Lê Thị Ngọc Ản, hiệu chùa là Diệu Thụy.
          Đó tấm bia chùa Tây Thiên nay đặt ở đây, là các di sản thời trung cổ còn lại ở sân đền Thỏng Tây Thiên rất quý giá.
Trong khu vực đền Thỏng còn có tấm bia đá có tên “Đồi Rộng Thôn Chung” , nhưng tiếc rằng chỉ còn lại thác bản lưu giữ ở thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội.
          Theo điều tra của Học viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp năm 1938, thì ngôi đèn Thỏng là “ Hữu Thần Cung”, một trong 03 thần cung thờ về Quốc Mẫu Tây Thiên núi Tam Đảo.
Trước cửa đền có cây đa 09 cội phát triển từ những thân rễ mà thành, tạo cho ngôi đền thêm sự huyền bí thiêng liêng nơi cửa Mẫu. Là linh khí trong các trong huyền tích về “Thần cây đa” của làng xã Việt Nam. Đó còn là hình ảnh của cây “Dung thụ”. Cây “Mẹ” của “Phật đá trắng” chép trong sách “Lĩnh Nam chích quái” ở thế kỉ 15 tạo thành các Phật “ Phấp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện” trong tín ngưỡng cầu mưa dân gian Việt.
                                                               Lê Kim Thuyên-  Tháng 06 năm 2013.





Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014

CHÙA TÂY THIÊN

      
CHÙA TÂY THIÊN Còn gọi là Tây Thiên Thiền Tự  西天禪寺 là ngôi chùa Thiền 禪 thờ tự theo chính phái Đại Thừa, có cấu trúc theo kiểu thức của chùa làng Việt Nam.
Theo con số thống kê năm 1938 của làng Sơn Đình huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Yên thì trong chùa thờ 10 pho tượng cổ bằng gỗ sơn son. (xem AJ. 1/11 Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội-xã Sơn Đình) và 5 văn bản chữ Hán thuộc các loại hình sau đây:
Về bia kí có 3 bia:
1. Tam Đảo Sơn Tây Thiên thiền tự 三島山西天禪寺, lập năm Chính Hòa  25  nhà Lê  (1704). Thác bản Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội No. 14742 – 43.
2.Tam Đảo Sơn Tây Thiên tự trùng tu lập thạch bi kí. 三島山西天寺重修立石碑記, lập năm Long Đức thứ 2 nhà Lê (1733). Thác bản No. 14761 – 62.
3. Trong chùa cón có tấm bia về Thánh Mẫu núi Tam Đảo Tây Thiên tự Thánh Mẫu miếu bi kí 西天寺聖母廟碑記, lập năm Duy Tân Quý sửu (1913) nhà Nguyễn. Thác bản No.14744 – 45.
Còn có 2 văn bản về đồ tự khí là:
1. Tây thiên tự chung 西天寺鍾 là bài minh ghi trên chuông cùa Tây Thiên. Thác bản No. 14746.
2. Tây thiên tự khánh 西天寺磬 là bài minh ghi trên chiếc khành có trong chùa. Thác bản No. 14748 – 49.
Tiếc rằng hiện nay trên chùa chỉ còn lại hai bia là các bia Long Đức và bia của năm Duy Tân. Còn thì đều đã thất lạc cả.
Theo các thư tịch cổ về niên đại xây dựng , các tài liệu địa chí đều khẳng định không rõ dựng từ đời nào. Khoảng các đời Chính Hoà (1680-1705), Bảo Thái (1720-1729) nhà Lê, nhiều lần có tu sửa, dựng bia nay hãy còn. Không thấy sách Đại Việt Sử Kí Toàn thư chép gì về ngôi chùa này. Mãi tới đời vua Tự Đức triều Nguyễn ở thế kỉ 19 mới thấy sách “Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục” ghi vào năm Đinh mùi dưới triều vua Lê Dụ tông năm Bảo Thái thứ 08 ( 1727)vắn tắt như thế này: Khi tuổi đã về già, Trịnh Cương đi tuần du không có tiết độ. Nhiều lần sai bọn hoạn quan chia nhau đi sửa dựng các chuà ở núi Độc Tôn và Tây Thiên để phòng bị khi đi du ngoạn.
Như vậy là ngôi chùa được xây dựng từ rất lâu năm về trước, đến năm này thì được triều đình cho tu sửa lại. Tuy nhiên đã có những lần tu sửa chùa Tây Thiên từ trước đó, vào năm Chính Hoà thứ 24 đời vua Lê Hi tông đã có đợt tu sửa. Sau đó đến năm Long Đức thứ 02 đời vua Lê Đế Duy Phường là  năm Kỉ  sưủ (1733), lại có tu sửa. Theo nôi dung bia lập năm Long Đức ,Sư Tăng trụ trì lúc đó là ông Thị Nội giám Nghiêm Thọ bá Nguyễn Viết Ninh, người xã Đông Lâu, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, đạo Kinh Bắc nước Đại Việt ta xuất gia tu Phật, đổi tên là Tì khưu Huệ Minh, tên chữ là Như Hiền thấy cảnh chùa tan hoang đã không đành tâm, mới phát lời công đức , chiêu tập các Tăng đến cùng tu phúc. Lấy búa đập đá núi xây thành thiên cung vách vàng, huy hoàng trở thành bảo điện. Về quy mô và thế địa chùa, đàng sau điện là một vùng non nước rộng sâu kết thành hoa sen chín tòa. Phía trước có hai gò chiêng trống, các gò họp thành gác phượng. Bên ngoài có cửa Tam quan cho mọi người đi lại vào ra.  Bên trong thì trên điện trang nghiêm, như chim tư cách, như thuý đang bay, thật rực rỡ thay chẳng khác đài xưa y hệt. Thật là ơn đức dồi dào, hiển nhiên như mới. Ai lên đến nơi, không thể không lưu luyến, thấy cảnh vật bây giờ rất mới, vậy mà cảnh vật rỡ ràng như xưa, chẳng khác nào vạn cổ đến nay, đất trời dựng lại, đất trời trường tồn mãi mãi. Công đức ấy ví bằng núi cao, bền chặt, không thay đổi. Quả phúc nhiều khác tựa nước sông, trăm đời không dịch chuyển, vạn đời còn trông thấy.
Tấm bia lớn là bia tạo năm Long Đức 2 còn lại ở chùa Tây Thiên. Tấm bia nhỏ là bia lập năm Duy Tân.


Bài kí văn bia lần tu sửa năm này (Long Đức thứ 2 =1733) viết phần mở đầu có đoạn mô tả về cảnh trí Tây Thiên: 
蓋聞
天地覆載之間惟佛道為最大人世護持之力必陰務而有興粵觀古跡名藍莫若西天勝境禪月停停千里照依然兜率乾坤心花灼灼四時開恍爾蓬來日月收拾一壺世界渾無半點塵埃景清幽物亦清幽坦坦途通羽客趣玄妙道同玄妙凌凌跡絕凡間視瓊林仙跡則西天其第一松林也寔乃鍾靈標異國壽民祈之所焉豈可區區拳石視之哉扁曰三島山西天寺正所以表南天勝景古跡名藍也 . 
Cái văn,
Thiên địa phúc tải chi gian, duy Phật đạo vi tối đại. Thế tượng hộ trì chi lực, tất âm vụ nhi hữu hưng. Việt quan cổ tích danh lam, mạc nhược Tây Thiên thắng cảnh:
Thiền nguyệt đình đình thiên lí chiếu, y nhiên đâu suất càn khôn; Tâm hoa chước chước tứ thời khai, hoảng nhĩ bồng lai nhật nguyệt. Thu thập nhất hồ thế giới, hồn vô bán điểm trần ai; Cảnh thanh u, vật diệc thanh u, thản thản đồ thông vũ khách. Thú huyền diệu đạo đồng huyền diệu, lăng lăng tích tuyệt phàm gian, thị quỳnh lâm Tiên tích, tắc Tây Thiên đệ nhất tùng lâm dã. Thực nãi chung linh tiêu dị, quốc thọ dân kì chi sở yên. Khởi khả dĩ khu khu quyển thạch thị chi tai. Biên viết : Tam Đảo sơn Tây Thiên thiền tự. Chính sở dĩ biểu Nam Thiên thắng cảnh cổ tích danh lam dã.
Nghĩa là:
Từng nghe,
Đem lại phúc ở trong cõi giời đất chỉ có đạo Phật là lớn lao hơn cả. Sức mạnh giúp đỡ cho đời, chỉ có việc âm là có công. Trải xem cổ tích danh lam tất phải kể đến Tây Thiên thắng cảnh:
Trăng Thiền dừng dừng nghìn dăm chiếu, như xưa vây bọc đất trời; Lòng sao rộn rã bốn mùa vui, chẳng thể khác cảnh Tiên ngày tháng.Thu vào một bầu thế giới, hồn không gợn bụi trần ai: Cảnh thanh u, vật cũng thanh u, rộng rãi thẳng thông đường đạo sĩ. Thú sâu kín đạo cùng sâu kín, nào xem nền cũ còn đâu, nhìn khắp lượt dấu Tiên, quả trong chốn tùng lâm, Tây Thiên đứng hàng bậc nhất. Thật rõ thiêng liêng khác lạ, nước thọ dân cầu sở chính là đây, đâu phải nhỏ nhoi như nắm tay ném đá. Nên mới đặt là Chùa Thiền Tây Thiên núi Tam Đảo , một cổ tích danh lam dưới trời Nam vậy!
  Công việc tu sửa chùa hoàn thành mới soạn bài minh để truyền lại về sau. Bài “minh” có câu:
粵 從 開 闢
二 氣 流 行
相 望 巍 業
一 帶 青 青
名 山 三 島
永 鎮 鳳 城
即 心 即 佛
是 色 是 形
          Việt tòng khai tịch,
          Nhị khí lưu hành,
Tương vọng nguy nghiệp
Nhất đái thanh thanh
Danh sơn Tam Đảo
Vĩnh trấn phượng thành
Tức “Tâm”, tức “Phật”
Thị sắc, thị hình.
Nghĩa là:
Trời cao mở vận
Hai khí lưu hành
Đối nhau nên nghiệp
Một giải xanh xanh
Núi đẹp Tam Đảo
Lầu phượng mãi thành
Là “Tâm”, là “ Phật”
Rõ có nên hình.
 Chuà được xây dựng cùng khuôn viên đền Mẫu Tây Thiên ở độ cao 530m trên núi Thạch Bàn có quy mô như vậy, nhưng rồi chỉ hơn 200 năm sau đã đổ nát. Lời khai về ngôi chùa Tây Thiên năm 1938 của dân thôn Sơn Đình cho hay: Thôn Sơn Đình có một ngôi đền Tây Thiên và chùa Tây Thiên là nơi linh từ và danh lam thắng cảnh nhất hạt Tam Dương.
Đền ( và chùa) này làm ở trên dãy núi Tam Đảo, từ thôn Sơn Đình vào tới đền chùa phải trèo qua năm quả núi xa độ 6 cây số mới tới….
Vì lâu đời như thế, nên nhiều chỗ đổ nát, mà dân thôn Sơn Đình nghèo và ít người không thể chữa được. Nên năm Bảo Đại thứ 12 (1937) có viên chánh tổng tổng Thượng Đạt là Hà Trọng Tuy, người làng Liễn Sơn huyện Lập Thạch xin với dân để tập phúc chữa lại, chữa theo kiểu mới, làm đền và chùa liền nhau (chung một đốc mái). Một bên đền, một bên chùa. Chùa cũ 01 gian.
Trong số văn bản cổ , có đôi câu đối viết về Phật:
東 土 青 年 開 智 慧
西 天 紅 日 照 光 明
Đông Thổ thanh niên khai trí tuệ 
                                      Tây Thiên hồng nhật chiếu quang minh.                                                                                                                          
          Nghĩa là:
          Cõi xuân Đông Thổ mở  trí tuệ
          Mặt trời Tây Thiên chiếu sáng soi.

Chữ “Đông Thổ” là chỉ về đất đai đời Đường Trung Quốc nơi xuất xứ vua Đường cử đoàn sứ giả sang Tây Thiên đất Phật lấy Kinh trong truyện Tây Du Kí.
Viết về nhân thế có câu:
山 名 也 歷 代 帝 王 瞻 大 佛
水 靈 馬 萬 民 族 性 仰 洪 恩
Phiên âm.
Sơn danh dã lịch đại đế vương chiêm đại Phật.
Thủy linh mã vạn dân tộc tĩnh ngưỡng hồng ân.
Nghĩa:
Núi nổi danh, đời các đế vương đều về thăm Phật.
Suối thiêng đó, vạn họ trong dân tộc hưởng ơn to.
Ở vế đối có cụm từ “Thủy linh mã”, nghĩa là dòng nước thiêng có từ móng ngựa cào, có xuất xứ từ chữ “mã pháo tuyền”, được bảng nhãn Lê Quý Đôn ở thế kỉ 18 giải thích như sau: “Ở phía tây bắc chân thành Ninh Minh tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) có “Mã pháo tuyền” (Suối ngựa cào), còn gọi là “Thái tử tỉnh” (Giếng Thái tử). Ở đây nước trong và ngọt, đựng vào bình để hàng tuần không biến vị, uống nước ấy có thể làm tiêu hết chứng độc. Các sứ giả (nước ta .LKT.) đi cống sau khi qua cửa quan (Tức Mục Nam quan. LKT.) đến Minh Giang, lên thuyền, phải chứa ngay nước suối ấy đủ dùng cho đến Lạng Sơn, không dám uống nước sông Bằng Tường. Tương truyền rằng Trấn Nam vương (Thoát Hoan, thái tử nhà Nguyên. LKT.) đi đánh Chiêm Thành quân sĩ uống nước Minh Giang đều bị bệnh. Sau cầu thần thì thấy ngựa lấy chân cào đất, nước suối vọt ra, cho nên gọi là “Mã pháo tuyền” (nghĩa là ngựa lấy móng chân cào đất, có nước ở dưới đất chảy ra như suối. LKT.).
Ở khu vực Tây Thiên núi Tam Đảo có suối Bát Nhã, tức là “Bát Nhã tuyền”  般 若泉 , (Chữ Bát nhã là dịch từ âm tiếng Ấn Độ là Prajna trong ngôn ngữ Xăng-xcơ-ri nghĩa là “trí tuệ”) tức dân gian gọi là “Suối Giải Oan”.   Đó là những sự tích ẩn ý trong vế đối kể trên vì theo quan niêm chỉ có đức Phật mới có trí tuệ này, mà Tây Thiên núi Tam Đảo là nơi đất Phật.
Quả đáng là:
一 日 懇 求 十 方 佛
年 年 心 念 九 重 天
Nhất nhật khẩn cầu thập phương Phật
Niên niên tâm niệm cửu trùng thiên.
Nghiã là:
Hàng ngày khẩn cầu mười phương Phật
Hàng năm tâm niệm chín tầng giời.
Cùng trong khuôn viên chùa là khu tháp mộ của ba vị Thiền sư từng trụ trì đã viên tịch ở nơi đây. Có danh hiệu là:
罔 山 禪 師            Võng Sơn Thiền sư.
          菊 溪 禪 師            Cúc Khê Thiền sư.
覺 靈 我                  Giác Linh Ngã.
Xưa kia là mộ đất. Từ năm 1993, Sở VH-TT&TT tỉnh Vĩnh Phúc, sau khi đã xây dựng xong Chùa Tây Thiên mới, tách khỏi khuôn viên “Đền chùa liền nhau” đã xây dựng khu bảo tháp mới liền chùa Tây Thiên, và di các di cốt của 03 vị Thiền sư nhập vào bảo tháp với nghi lễ trang trọng.
 Mộ tháp ba vị Thiền sư.


         
Từ đây, mong sao được yên tĩnh để khách thập phương lên du lãm Tây Thiên đến với Phật, nơi cội nguồn và phát tích của Phật giáo dòng Thiền Việt Nam được tịnh tâm thả hồn tưởng về “trời Tây”, và đắm mình vào cảnh trí thiên nhiên Tây Thiên kì thú.
Nơi mà:
地 控 三 邊 橫 一 帶
山 連 七 縣 鬱 千 盤
               
Địa khống tam biên hoành nhất đái
          Sơn liên thất huyện uất thiên bàn.  
          (Dưới lũng ba bề non một dải
          Liền trong bẩy huyện ngổn ngang trông)
          Cùng đồng thời:
九 曲 回 溪 山 百 轉
獨 高 峰 半 是 西 天
Cửu khúc hồi khê sơn bách chuyển
          Độc cao phong bán thị Tây thiên.
          (Chín suối chầu về trăm núi lượn
          Chừng cao nửa ngon ấy Tây Thiên)
          Đó là cảm nhận của thi sĩ Cao Bá Quát từ thế kỉ 19 khi ông từng trèo đèo , vượt suối đến với Tây Thiên, đến với Phật tự.
         
                                                Sơn Đông tháng 5 năm 2013.
                                                                   LKT
Địa chỉ:
Thôn Quan Tử xã Sơn Đông huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc.
ĐT.  02113828069.
D Đ.  0984550547.