Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

NỀN KHOA BẢNG HUYỆN SÔNG LÔ


NỀN KHOA BẢNG HUYỆN SÔNG LÔ

                                                          Lê Kim Thuyên
Hội viên hội Khoa học lịch sử tỉnh Vĩnh Phúc.
                                     
Đóng góp vào kho tàng văn hiến Văn chương và người hiền tài nước Đai Việt, huyện Sông Lô nói riêng và huyện Lập Thạch nói chung tuy thuộc miền đất đai khô cằn, khó canh tác từng thể hiện trong một câu ví von:
Lập Thạch đẽo đá xây chùa
Chưa mưa đã úng, nắng đuà đã khô
Nhưng cũng đã là huyện có truyền thống khoa bảng là một thành tạo cốt lõi. . Lập Thạch, đó là tên xã Lập Thạch nay thuộc xã Yên Thạch, trung tâm của huyên Lập Thạch đời Trần Lê trở về trước, nơi có  “ hòn Đá Dựng” để ra đời địa danh Lập Thạch huyện từ năm 1399, đời vua Trần Thuận tông, cách nay 612 năm gồm có 04 thôn Do Nha ( tục danh làng Ngà), Vĩnh Quang ( thường gọi xóm Chùa- nơi có ngôi chùa Long Hoa xây dựng từ đời Lí, còn quả chuông “Long Hoa tự chung” cực lớn cũng được tạo từ đó, được tục khắc vào đời Cảnh Thịnh triều Tây Sơn, thôn Đại Chung ( tục danh làng Cả) và thôn Văn Lâm. Đất ấy, nay thuộc về huyện Sông Lô.
          Tổng số văn bản Hán Nôm có trong địa bàn huyện Sông Lô  mới lập được chép lại hiện nay còn điều tra được là 38 văn bản. Gồm có 06 tấm bia chùa, 01 tấm bia đền miếu, 25 tấm bia đình, 02 tấm bia cầu, 01 tấm bia văn chỉ bằng đá, 03 quả chuông và một tấm khánh chất liệu đồng. Đó là những di sản còn lại từ nghìn năm đến trăm năm.
          Tương thích với kho di sản ấy là sự thành đạt về học nghiệp của lớp Nho sĩ huyện Sông Lô. Hiện nay rất khó thống kê danh sách các “ông cử, ông tú” là các bậc thi đỗ trung khoa, tiểu khoa trong huyện vì thư tịch tản mạn trong các nhà.Chỉ duy nhất còn 01 tấm bia đá đứt ngang thân, nay đặt trong sân chùa Vĩnh Khánh thị trấn Tam Sơn là còn đọc được 02 danh sách người thi đỗ sinh đồ ( tú tài ) đời Lê trong tổng số 12 người đỗ như Lê Chiêu Minh người xã Lạc Sơn, Hà Thế Bình người Xã Bình Sơn…..
           Để bù lại, thì danh sách các bậc thi đỗ đại khoa lại rất đầy đủ. Cụ thể kể ra như dưới đây.
Khổng Cư Lỗ.  孔居 魯
Chưa rõ năm sinh và năm mất.
Ông người xã Thạch Lỗi huyên Lập Thạch. Nay là làng Phan Giư xã Cao Phong. Thi đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Tân sửu niên hiệu Hồng Đức năm thứ 12 ( 1481) đời vư Lê Thánh tông.
Về khoa thi này, bài kí bia Văn miếu- Quốc Tử Giám Hà Nội chép:
 Năm Tân sửu đời Hồng Đức là năm 54 kể từ năm mở nước, mà là năm thứ 22 kể tù khi Hoàng thượng trung hưng. Trong các khoa thi lớn đã mở thì khoa thi này là khoa thứ 11. Số cử nhân ghi tên xin thi ở bộ Lễ có hơn 2000 người. Chọn hạng hợp cách để vào thi đình chỉ được 40 người. Việc chọn lựa thực sự đã kĩ lắm…
Ông Khổng Cư Lỗ đã đỗ danh sách thứ 12 trong số 29 vị ở hàng đệ tam giáp theo danh sách ghi trên bia. ( xem bia số 07)
Triệu Nghị Phù.  趙 誼符
Năm sinh 1462. Chưa rõ năm mất.
Ông người xã Đức Liệp ( Lạp ) huyện Lập Thạch. Nay thuộc thôn Nam Giáp xã Đức Bác. Thi đõ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân khoa Bính thìn niên hiệu Hồng Đức năm thứ 27 đời vua Lê Thánh tông (1496).
Sách “Đại Việt Sử Kí Toàn Thư” của Ngô Sĩ Liên chép:
Tháng 03, ngày Đinh dậu 19, vua thân hành khảo thí ở thềm son điện Kính Thiên, hỏi về đạo trị nước. Ngày 26, dẫn các sĩ nhân vào sân điện Kim Loan, vua tự xem dung mạo từng người. Ngày 27, vua ngự chính điên xướng danh.
Có truyện rằng, xét về điểm thi, ông đỗ trạng nguyên. Do khi vào sách vấn, vua hỏi ông là người ở đâu? Ông cứ ngay thẳng đáp “Thần vu Kẻ Lép”, nghĩa là tôi là người ở Kẻ Lép. Kẻ Lép là tục danh của làng Đức Liệp, quê hương ông. Tuy nhiên vua Lê Thánh tông vốn hay chữ lại cho đó là nôm na mách qué nên đã bãi học vị trạng nguyên của ông, đánh tụt xuống bảng đệ nhị giáp danh sách thứ 05, nghĩa là tới 08 bậc học vị.
Lê Đĩnh Chi. 黎 挺 之         1467 – 1511
Ông người xã Lạc Sơn ( cũng đọc là Nhạc ) huyện Lập Thạch. Nay thuốc xã Nhạo Sơn.
Ông thi đỗ danh sách thứ 11 trong số 28 người ở bảng đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
Khoa thi Hội tổ chức vào tháng 04. Bấy giờ có tới 5000 người thi tuyển.  nhưng số lấy đỗ chỉ có 55 người.
4. Hà Sĩ Vọng.  何 仕望           1514 – 1595
Ông người ở Tuy Phúc, thuộc về xã Yên Xá, nay Yên Xá thuộc vế xã Yên Thạch. Làm nhà ở xã Bình Sơn. Vì thế có bản khai ở xã Bình Sơn. Nay di tích họ Hà còn ở xã Như Thuỵ
Ông thi đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Ất mùi niên hiệu Đại Chính năm thứ 06 đời vua Mạc Đăng Doanh (1535), danh sách thứ 20 trong 22 người của bảng này năm ông mới 22 tuổi.
5. Hà Nhậm Đại.   何 任 大         1526 - 1595
Là em trai của Hà Sĩ Vọng.
Ông thi đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Giáp tuất niên hiệu Sùng Khang thứ 09 đời vua Mạc Mậu Hợp, danh sách thứ 11 trong số 13 người cùng bảng.
Kể trên, là 05 vị vào hàng đại khoa của Việt nam thời Nho học thịnh hành của huyện Sông Lô. Có 01 vị thi đỗ ở bảng đệ nhị, còn 04 vị thi đỗ ở bảng đệ tam.
Về những đóng góp cho quốc gia, có ông Lê Đĩnh Chi được cử làm phó đoàn đi sứ nhà Minh vào năm Đoan Khánh Đinh mão ( 1507 ) đời vua Lê Uy Mục, làm phận sự tạ ơn về việc vua Minh ban cho tế phẩm. Ông Triệu Nghị Phù làm quan ở chức Đô ngự sử ở Ngự sử đài, là quan chức cấp cao thuộc hàng chánh tam phẩm. Ông Hà Sĩ Vọng, làm quan tới chức hữu thị lang bộ Lễ, tương tương như chức thứ trưởng ngày nay. Ông Hà Nhậm Đại làm quan tới chức thượng thư ở bộ Lễ. (tương đương chức bộ trưởng ngày nay ), ông còn là nhà thơ có thi phẩm để lại ở đời.

                                      Sơn Đông. Ngày 30 tháng 08 năm 2011


* Tác giả giữ bản quyền.
Các tài liệu dùng để viết bài:
1. Kho bia viện nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội.
2. Bia tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội.
3. Đỉnh khế Đại Việt lịch triều đăng khoa lục.
Văn bản của thư viện, viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội. VHv. 2140.
4. Lập Thạch huyên văn từ TS bi.   No. 15503.
            Viện Nghiên cứu hán Nôm Hà Nội.

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

QUAN ÂM DI PHỤ MẪU THƯ. 觀音貽父母書



         
QUAN ÂM DI PHỤ MẪU THƯ.

       觀音貽父母書

Nênh nỗi chân bèo khách địa
Phận phù sinh liền mấy kiếp thiêu hơi.
Ngậm ngùi gốc tử cố hương
Nhời vĩnh quyết theo cùng dòng mặc lệ.
Khuất mặt gọi để sau làm dấu
Khấu đầu vâng dẫu chước càn thương.
Thưở thác sinh vào chốn hoa thôn
Phận sử mĩ dám lòe hương hiếu kính.
Khi tác hợp nhờ tay nguyệt lão
Bạn lương nhân bao rẽ mực chinh chuần.
Nghĩ một bề trọn đạo nghi gia
Để hai đức đành lòng nguyện thất.
Duyên kết tóc mới nên nhời nguyền ước
Chỉ hồng lá thắm trăm năm
Nỗi cắt râu ai giắt mối oan khiên
Cầu thước sông ô đôi bến.
Cầu ngọc đã đành ngang khúc lượn
Lầu hồng thêm để thẹn gương loan.
Mai chia cành chạnh nỗi phu thê
Chếch méch phòng duyên nghìn dặm nguyệt.
Dâu ngã bóng cảm tình phụ mẫu
Dở dang cửa đức một chồi hoa.
Hẳn sinh xưa chưa vẹn đường tu
Nên nợ cũ còn theo quả kiếp.
Hương mật đảo luống trông vời Bắc đẩu
Tiếng quyên đứt nối buổi tàn canh
Nước Giải Oan còn khơi suối Tây Thiên
Giấc bướm đi về nơi Lạc Thổ
Đã li biệt lỗi cùng nhất nhật
Phải tu hành độ lấy tam sinh.
Tưởng duyên xưa mình vẫn một mình
Cả lòng quyết thay xiêm đổi áo.
Tới cành la bước đường nửa bước
Bạch Thầy xin thắp nến dâng hương.
Mặt vâng chữ Tín là tên
Tài lắng lời răn để dạ.
Bèo bọt chôi về bể Thích
Biết thân này đã biết Phật hay Tiên.
Sồng nâu ngã xuống mầu Thiền
Dành quả ấy phải nguyền non với nước.
Khuyên con trẻ vui về thú tính
Hoa trời già sót đến niềm chay.
Ngẫm cảnh nhà khi chân nhạn khua sương
Hiếu nghĩa đôi đường còn tủi tí
Lắng tiếng kệ thưa chầy Kình nện nguyệt
“Sắc” “Không” hai chữ sẽ nguôi dần.
Thiện căn hằng khuya sớm vun trồng
Phúc ấm hoa mai sau trọn vẹn.
Dưa muối vốn ưa người với cảnh
Dám để hơi trần chướng lọt vào.
Giăng hoa khen nhà khéo sinh con,
Bỗng đem mối phong tình buộc lại.
Nghiệp còn nặng thuyền từ khôn nhẽ chối
Tình có ngay mắt tục dễ ai tin
Phép công hổ tiếng tiều tăng
Giọt nước cành dương bao rửa bụi.
Khoáng cũ nặng lòng sư trưởng
Đoá mây đỉnh Thíu cũng tuôn sầu.
Giắp vạch sòng cho tỏ mặt nhân gian
Song tu chót kẻo thẹn lòng thượng giới.
Rê chân bụi dạn dày sâu tình địa
Rã chiều già dựa mái tam quan
Vốn lòng Thiền chẳng đặng đến chân hương
Niệm Phật bái vào ngôi cửa “tự”.
Bể khổ chìm bao được nỗi Nợ trần trả chửa hai xong
Nhai sương ngâm tuyết chị cho ai
Ngoài chín tháng đôi tau con nhện mọn.
Dãi gió dầm mưa liền mấy kiếp
Rong sáu thu một xác cái ve gầy.
Phôpi pha bao quản cửa Già lam
Tười héo khôn nài cơ tạo hóa.
Cảnh vắng nào Thầy nào Tiểu
Giọt nước đồng thánh thót thưở trăng khuya.
Đèn tàn bên mộ bên con
Mồ hôi đã đầm đìa cơn gió thoảng.
Giấc trần mộng nằm lâu cũng mỏi
Hạn kim sinh biết thế là thôi.
Lỗ sinh nên phải bước bèo mây
Đôi gánh cù lao dồn lại nặng.
Vụng hóa chưa tròn duyên lỗi chốn
Một thư thề oán gửi về không
Đã quen kiếp ấy chốn song ân
Báo biết thân sau vào cửa phúc
Hồn hồ điệp từ nay muôn kiếp
Nước non diệu vợi biết con đâu
Nghĩa minh linh cũng gọi một ngày
Hương khói mai sau đành cháu đấy.
Tình dài ngắn thêm rầu khúc vượn
Đường xa xôi xin mượn cánh hồng.
Lược thuật.
Bài này của tác giả là cụ Nguyễn Mẫn Chi. Theo sách “Địa chí tỉnh Vĩnh Phúc” ( NXB KHXH Hà Nội năm 2012 trang 608 và 801) thì Nguyễn Mẫn Chi sinh năm 1762 dưới thời vua Cảnh Hưng triều Lê, người xã Thụ Ích huyện Yên Lạc, nay là thôn Thụ Ích xã Liên Châu huyện Yên Lạc.
Theo trong gia phả thì cụ Chi (Còn có tên là Liêm) là con trai của cụ Nguyễn Bình Cách thi đỗ Cử nhân đời vua Cảnh Hưng (1740-1786). Vì gia đình có 11 đời khoa bảng liên tiếp nên được nhà vua ban cho bốn chữ: “Gia hương thập thế”. Khi cụ thân sinh mất đi lúc đó cụ Chi mới 27 tuổi, gặp lúc Hoàng đế Tây Sơn Nguyễn Huệ ra Bắc, bạn của cụ lúc đó là cụ Ngô Thì Nhậm tâu với vua Quang Trung tiến cụ lên làm Thượng thư bộ Lễ , nhưng cụ nhất quyết không chịu nhận, chỉ một lòng trung thành với nhà Lê. Rồi cụ tìm nơi lẩn tránh lên làng Vĩnh Mỗ mở trường dạy học, đặt tên trường là “Lạc Trai” 樂齋( vui trong chay tịnh), đồng thời viết bài thơ này để tự ví vào việc cụ Nhậm tiến cử cụ cho vua Quang Trung cũng như cô Thị Mầu buộc cho bà Thị Kính là thông gian.
Bài thơ được truyền tụng qua nhiều người và được khen là hay. Cũng có nhiều ý kiến phê bình. Chỉ duy có cụ nghè Bột người Thanh Hóa (Tức cụ Lê Huy Du sinh năm 1757, người xã Bột Thượng huyện Hoằng Hóa, nay thuộc xã Hoằng Vinh huyện Hoằng Hóa, thi đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Đinh mùi niên hiệu Chiêu Thống I đời vua Lê Mẫn Đế.1787) có lời phê là xác đáng nhất.
Câu thứ nhất của cụ nghè Bột phê ở đoạn:
Hồn hồ điệp từ nay muôn kiếp
Nước non diệu vợi biết con đâu.
Phê: Thị tử tưởng bất khởi hĩ! 是 子 想 不 起 矣 Nghĩa là: Con đáy biết đến bao giờ. Nhưng âm “Tử” còn có một chữ nữa, viết là “Tử” 死, chữ này nghĩa là “Chết”, quả nhiên không được mấy ngày thì ông Mẫn Chi ra đi.
Câu phê thứ hai là ở đoạn:
Nghĩa minh linh cũng gọi một ngày
Hương khói mai sau đành cháu đấy.
Phê: Hậu thế kì phục hưng hồ! 後 世 其 復 興 乎 Nghiã là: Đời sau sẽ có nổi lên. Quả nhiên con trai cụ là Nguyễn Văn Thứ thi đỗ Tú tài đời nhà Nguyễn khai khoa ở đời vua Gia Long (1802- 1819). Cháu nội của cụ là Nguyễn Văn Ái thi đỗ Tiến sĩ ở khoa Kỉ tị (1869) đời vua Tự Đức; Chắt của cụ là Nguyễn Văn Chí thi đỗ cử nhân khoa Canh tí (1900) đời vua Thành Thái.
Vì trong sách “Địa chí Vĩnh Phúc” mới xuất bản tháng 12 năm 1912 có giới thiệu ở mục “Nhân vật-lịch sử” giới thiệu về Nguyễn Mẫn Chi, nay tôi giới thiệu tiếp văn phẩm của Cụ để bạn đọc rõ về tư tưởng và phẩm hạnh của cụ, cũng là việc làm có ý nghĩa.
Sơn Đông. Ngày tháng 06 năm 2013.
    LÊ KIM THUYÊN
Hội viên Hội VHNT tỉnh Vĩnh Phúc
   Sưu tầm và giới thiệu.
* Địa chỉ liên hệ:
Thôn Quan Tử, xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch.

DANH NHÂN VĨNH PHÚC THỜI MẠC


BÀI THAM LUẬN DỰ HỘI THẢO KHOA HỌC
 Nhà Mạc và hậu duệ trên đất Vĩnh Phúc.
----------------------
DANH NHÂN VĨNH PHÚC THỜI MẠC
                  
           Lê Kim Thuyên
        Nhà nghiên cứu Lịch sử địa phương
        Hội viên Hội Khoa học Lịch sử Vĩnh Phúc.
                                 Hội viên Hội Văn học-Nghệ thuật Vĩnh Phúc.

          Nhà Mạc chính thức có ngôi Hoàng đế với 05 đời vua từ Mạc Đăng Dung niên hiệu Minh Đức năm thứ nhất 1527 đến Mạc Mậu Hợp niên hiệu Hồng Ninh thứ 02 (1592) thì kết thúc. Cộng là 66 năm, không lúc nào không có những nhân vật người tỉnh Vĩnh Phúc đứng trong bộ máy chính trị phò tá. Tuy hiện nay chưa tìm được những danh thần võ tướng có công lao đặc biệt giúp cho các vua nhà Mạc trong thời ổn định 12 năm ở 02 vua đầu là Mạc Đăng Dung và Mạc Đăng Doanh (1527 – 1540) cũng như những năm sau ở thời Nam Bắc triều Lê - Mạc. Nên trong những con người thuộc tỉnh Vĩnh Phúc phục vụ cho triều Mạc chỉ còn tìm thấy danh sách trong nền khoa bảng triều Mạc, chép trong các sách “Đăng khoa lục” triều Lê và tư liệu trong bi kí cũng như phả lục các họ còn ở địa phương làng xã Vĩnh Phúc mà ở hội nghị này chúng tôi tính vào hàng “Danh nhân Vĩnh Phúc thời Mạc” theo đặt hàng của Ban tổ chức.
Phải thừa nhận rằng, ở triều Mạc thời vua nào cũng tổ chức được các kì thi đại khoa để kén chọn người tài năng phục vụ cho triều đại mình. Từ năm Mạc Đăng Dung lên nắm quyền cai trị đất nước mở khoa thi đại khoa đầu tiên vào năm Minh Đức thứ 03 (1529) đến năm Mạc Mậu Hợp tổ chức khoa thi cuối cùng vào năm Hồng Ninh thứ 02 (1592) trong vòng 64 năm đã tổ chức được 22 khoa thi TS, số lấy đỗ được là 483 người, trong đó có những nhân tài kiệt suất như TN Nguyễn Bỉnh Khiêm, TN Giáp Hải.  Đáng kể nhất là ở thời của vua Mạc Mậu Hợp (1562 – 1592), tuy phải bôn ba khắp chốn ngoài kinh thành để tranh chấp về chính quyền và quân sự với các vua Lê là Anh tông và Thế tông nhà Lê ở vào thế ngày càng mòn mỏi, nhưng ông cũng đã tổ chức được 10 khoa thi, số lấy đỗ là 177 người. Cho nên có thể nói, nhà Mạc noi theo quy chế thi cử của nhà Lê và giữ rất đều đặn các khoa thi Hội trong các năm “thìn, tuất, sửu, mùi”, trong khi ấy nhà Lê khoa cử bị đứt đoạn dài tới 29 năm từ 1526, tới năm 1554 dưới triều vua Lê Trung tông Vũ Hoàng đế mới lại tổ chức được khoa “chế khoa” đầu tiên, số lấy đỗ được 13 người.
Tổng số người thi đỗ đại khoa dưới triều Mạc là 16 người.
Người Vĩnh Phúc thi đỗ TS đầu tiên là ông Hà Sĩ Vọng mà các sách ĐKL chép là người xã Bình Sơn huyện Lập Thạch. Thực ra, ông vốn là người xã Tuy Phúc huyện Lập Thạch, có nhà ở xã Bình Sơn. Nay Bình Sơn thuộc về thôn Sơn Cầu xã Như Thụy huyện Sông Lô. Có đôi câu đối ở từ đường họ Hà:
Bách thế lưu truyền, tông tổ thanh bồi lai dã viễn
Nhất đường ca tụng, tử tôn diệc diệp Vĩnh chi Tuy.
Ông thi đỗ năm 22 tuổi khoa Ất mùi niên hiệu Đại Chính năm thứ 06 đời vua Mạc Đăng Doanh (1535). Xuất thân làm quan tới chức Hữu thị lang bộ Lễ (tương đương chức thứ trưởng thứ hai), phẩm trật ở hàng “tòng tam phẩm”. Được phong tước “bá”, lấy một chữ trong tên quê hương ông, đặt là Tuy Lộc bá. Tên ông hiện còn được ghi trên bia TS huyện Lập Thạch “Lập Thạch huyện Văn từ TS bi” (Xem thác bản số 15503, kho bia Viện NCHN Hà Nội).
Người có khoa bảng cao nhất là ông Phạm Du, thi đỗ Bảng nhãn (Đệ nhị giáp TS cập đệ Đệ nhị danh) khoa Đinh mùi niên hiệu Vĩnh Định năm đầu (1547) đời vua Mạc Phúc Nguyên, năm 29 tuổi. Làm quan tới chức Tả thị lang bộ Binh (tương đương thứ trưởng thứ nhất), hàm tòng tam phẩm. Được vinh phong tước “bá”, đặt là Nghi Tuyền bá. Tên ông có trong bia “Bản huyện tiên hiền tính danh khoa thứ kí” là bia TS huyện Yên Lạc dựng năm Minh Mệnh 15 (1834) triều Nguyễn. (Xem thác bản số 14894, kho bia Viện NCHN Hà Nội) đặt trên xứ Đồng Đậu. Ông người xã Tiên Mỗ huyện Yên Lạc, nay thuộc về thị trấn huyện lị huyện Yên Lạc.
Thi đỗ ở hàng Hoàng giáp có 03 người, là các ông Bùi Hoằng, Lê Dĩnh và Dương Đôn Cương.
Đặc biệt có ông Bùi Hoằng người xã Thượng Trưng huyện Bạch Hạc nay là huyện Vĩnh Tường. Ông vốn là di duệ Hoàng tộc nhà Lê, là con trai của Thủ Chính, tên chữ là Thủ Ước, tên hiệu là Đức Trai, cháu nội của Bùi Thủ Chân, vị sơ tổ của họ Bùi ở Thượng Trưng. Theo bản “Tông tộc Bùi gia bảo” còn lưu giữ ở xã Thượng Trưng, thì Thủ Chân là con trai của Cung Vương Lê Khắc Xương, chính là Lê Thủ Chân. Câu truyện về Thủ Chân hơi dài dòng một chút. Số là, vua Lê Thái tông (con Lê Thái tổ húy Lợi) có 04 bà phi:
- Bà cả là Chiêu Nghi Dương Thị Bí sinh ra Lê Nghi Dân.
- Bà hai là Bùi Thần phi sinh ra Lê Khắc Xương.
- Bà ba là thần phi Nguyễn Thị Anh sinh ra Lê Bang Cơ.(vua Lê Nhân tông).
- Bà tư là Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao, sinh ra Lê Tư Thành. (vua Lê Thánh tông).
Năm Nhâm tuất (1442), vua Lê Thái tông băng hà đột ngột tại Lệ Chi viên. Lê Bang Cơ lúc đó mới lên 02 tuổi, được lên ngôi Hoàng đế, đặt miếu hiệu là Nhân tông, bà Anh buông rèm cầm quyền chính, quyết định việc nước. Vì là dòng đích mà không được lên ngôi vua nên mùa đông năm Kỉ mão (1459) Lê Nghi Dân đã giết vua Lê Nhân tông và Thái hậu Nguyễn Thị Anh, tự lập làm vua đặt niên hiệu là Thiên Hưng, phong cho Lê Khắc Xương làm Cung Vương, Lê Tư Thành làm Gia Vương. Các triều thần nhà Lê lúc đó cho là việc phản nghịch, nên đã xướng suất cùng nhau giáng Nghi Dân xuông tước “hầu”, rồi giết chết. Cứ lí thì Lê Khắc Xương đáng lên ngôi vua, nhưng lại có ý kiến muốn đón Tư Thành để lên ngôi. Nhưng rồi lại e cái lỗi bỏ anh lập em như vụ Bang Cơ, Nghi Dân, nên cuối cùng các triều thần cũng đến đón Cung Vương Lê Khắc Xương để lập làm vua, nhưng Lê Khắc Xương đã từ chối. Cuối cùng mới đón Lê Tư Thành lập làm Hoàng đế tức là vua Lê Thánh tông. Rồi do không hài lòng về việc này, nên Lê Thánh tông đã bức hại một số triều thần, lại bức hại cả anh trai mình. Nhân nghĩ đến chuyện xưa, khi Vua Thái tông mới lên 03 tuổi thì bà mẹ sinh là Phạm Thị Ngọc Trần mất, được giao cho  viên giám quan là Bùi Cầm Hổ nuôi dạy. Khi đã là Hoàng đế, Thái tông đã lấy con gái của Bùi Cầm Hổ để trả ơn. Thái tông và Bùi Quý phi sinh ra Lê Khắc Xương ngày 04 tháng 05 năm Canh thân (1440). Bởi vậy Lê Thánh tông mới cho Khắc Xương mang họ Bùi là họ ngoại cũng là việc trả ơn nghĩa, nhưng thực chất là loại bỏ anh trai ra khỏi họ “Hoàng tộc”. Con trai của Khắc xương là Thủ Chân mang họ Bùi từ đó và gọi là Bùi Thủ Chân, trở thành một vị “Hoàng tộc chân đất”.  Bùi Thủ Chân mang mẹ trở về xã Thượng Trưng, huyện Bạch Hạc, trở thành vị sơ tổ của họ Bùi xã Thượng Trưng. Cũng theo “Tông tộc Bùi Gia bảo” kể trên thì ở Thượng Trưng, Thủ Chân sinh 03 con trai là Đức Vĩnh, Thủ Chính, Từ Hạnh. Rồi Thủ Chính sinh ra Đức Trai, tức là Bùi Hoằng vào năm Kỉ tị (1505). Việc một ông dòng dõi “Hoàng tộc”  nhà Lê lại ra thi và làm quan với triều Mạc do đó cũng là việc dễ hiểu. Sau khi thi đỗ ở khoa thi Mậu tuất niên hiệu Đại Chính năm thứ 09 đời vua Mạc Đăng Doanh (1538), Bùi Hoằng được làm quan tới chức Tán trị Thừa chính sứ Thừa tuyên sứ ti trấn Hưng Hóa, phong hàm Gia Hạnh đại phu, ban tước “bá”: An Thủy bá. Dòng họ ông thờ bức hoành phi 03 chữ “hàn mặc hương” cùng đôi câu đối:
Tần tảo chi gia bồi hậu thực
Thư điền vô thuế tử tôn canh.
Đúng là phong vị nhà Nho thanh bần, trong sạch.
Cùng thi đỗ một khoa với ông, còn có Lê Dĩnh, cũng quê xã Thượng Trưng, cùng thi đỗ ở bảng Hoàng giáp (Đệ nhị giáp TS xuất thân) ở danh sách thứ 08 trong bảng năm 27 tuổi. Làm quan đến chức  Thừa tuyên sứ ở trấn Hưng Hóa, phẩm trật hàng tòng tam phẩm. Được vinh ban tước “bá”: Đằng Giang bá. Về trí sĩ, được tặng chức thiếu bảo.
Trong hàng Hoàng giáp còn có Dương Đôn Cương, người xã Vĩnh Mỗ huyện Yên Lạc. Thi đỗ ở khoa cùng với BN Phạm Du năm 22 tuổi, làm quan tới chức Hữu thị lang bộ Hình, hàm tòng tam phẩm. Được phong tước “bá”, đặt là Đam Giang bá. Là cháu nội của Dương Tĩnh TS đời Hồng Đức.
 Cũng ở khoa bảng triều Mạc, thuộc tĩnh Vĩnh Phúc còn có 12 vị nữa thi đỗ ở hàng Đệ tam giáp ĐTS xuất thân, có danh sách như dưới đây:
1. Hà Sĩ Vọng. Như đã kể ở trên.
2. Nguyễn Hoằng Xước. Người xã Lí Hải, nay là thôn Lí Hải xã Phú Xuân huyện Bình Xuyên. Thi đỗ khoa Mậu tuất niên hiệu Đại Chính thứ 09 đời vua Mạc Đăng Doanh (1538). Làm quan tới chức Đề hình Giám sát Ngự sử 13 đạo.
3. Vũ Doãn Tư. Người xã Sơn Đông huyện Lập Thạch, nay là thôn Quan Tử xã Sơn Đông huyện Lập Thạch. Thi đỗ khoa Tân sửu niên hiệu Quảng hòa năm đầu đời vua Mạc Phúc Hải, làm quan tới chức Tả thị lang bộ Lại.
4. Phạm Phi Hiển. Người xã Tĩnh Luyện huyện Lập Thạch, nay là thôn Tĩnh Luyện xã Đồng Tĩnh huyện Tam Dương. Thi đỗ khoa Tân Sửu niên hiệu Quảng Hòa năm đầu (1541) đời vua Mạc Phúc Hải. Làm quan tới chức phó Đô Ngự sử.
5. Tạ Hiển Đạo. Người xã Đinh Xá huyện Yên Lạc, nay là thôn Đinh Xá xã Nguyệt Đức huyện Yên Lạc. Thi đỗ khoa Giáp thìn niên hiệu Quảng Hòa thứ 04 (1544) đời vua Mạc Phúc Hải. Làm quan đến chức Hiến sát sứ, tước Quảng Xuyên bá.
6. Lê Hiến. Người xã Thụ Ích huyện Yên Lạc, nay là thôn Thụ Ích xã Liên Châu huyện Yên Lạc. Thi đỗ khoa Canh tuất niên hiệu Cảnh Lịch năm thứ 03 (1550) đời vua Mạc Phúc Nguyên. Làm quan tới chức Tả thị lang kiêm Đông các Đại học sĩ.
7. Đào Thái (có sách chép là Đào Thái Nhiệm). Người xã Liễn Sơn huyện Lập Thạch, nay là xã Liễn Sơn huyện Lập Thạch. Thi đỗ khoa Canh tuất niên hiệu Cảnh Lịch thứ 03 (1550) đời vua Mạc Phúc Nguyên. Làm quan tới chức Hiến sát sứ ở Hiến ti.
8. Nguyễn Công Phụ. Người xã Lí Hải huyện Yên Lãng, nay là thôn Lí Hải xã Phú Xuân huyện Bình Xuyên. Thi đỗ khoa Tân mùi (1571) niên hiệu Sùng Khang thứ 06 đời vua Mạc Mậu Hợp. Làm quan tới chức Thị lang. Sau khi nhà Mạc mất, ông quy thuận nhà Lê, làm quan tới chức Tham chính.
9.  Hà Nhiệm Đại. Người xã Bình Sơn huyện Lập Thạch, nay là thôn Sơn Cầu xã Như Thụy huyện Sông Lô. Thi đỗ khoa Giáp tuất niên hiệu Sùng Khang thứ 09 (1574) đời vua Mạc Mậu Hợp. Làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ, hàm tòng nhị phẩm.
10. Vũ Hoằng Tổ. Người xã Vân Ổ huyện Yên Lạc, nay là thôn Vân Ổ xã Vân Xuân huyện Yên Lạc. Thi đỗ khoa Canh thìn niên hiệu Diên Thành thứ 03 (1580) đời vua Mạc Mậu Hợp. Khi nhà Mạc mất, ông quy thuận nhà Lê, làm quan đến chức Tham chính.
11. Nguyễn Thế Thủ. Người xã Lí Hải huyện Yên Lãng, nay là thôn Lí Hải xã Phú Xuân huyện Bình Xuyên. Thi đỗ khoa Bính tuất niên hiệu Đoan Thái năm thắ 02 (1586) đời vua Mạc Mậu Hợp. Khi nhà Mạc mất, ông quy thuận nhà Lê, làm quan đến chức Tham chính.
12.Dương Tông. Người xã Linh Quang huyện Bình Tuyền phủ Phú bình trấn Thái Nguyên, nay là thôn Cao Quang xã Cao Minh thị xã Phúc Yên. Thi đỗ khoa Kỉ sửu niên hiệu Hưng Trị năm thứ 02 đời vua Mạc Mậu Hợp. Nhà Mạc mất, ông quy thuận nhà Lê, làm quan đến chức Thị lang.
Kể trên là các nhà khoa bảng triều Mạc, trong đó có 04 vị quy thuận về nhà Lê và đều được nhà Lê cho có quan chức, chứng tỏ khoa bảng nhà Mạc cũng trân trọng như nhà Lê vậy.
Riêng Hà Nhiệm Đại, là một vị TS có tài năng. Ông là nhà thơ có tập “Khiếu vịnh thi tập” lưu hành ở đời là tập thơ “vịnh sử” về nhà Lê, nên còn có tên “Lê triều khiếu vịnh thi tập”. Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội còn có lưu trữ. Về phẩm hạnh, ông và anh trai là Hà Sĩ Vọng khi nhà Mạc mất, các ông trở về quê quán ẩn dấu. sau vì giữ khí tiết, hai anh em ông đã đi trầm chu ở bến đò trên sông Lô, nơi xã nhà. Nay theo người dân địa phương còn lưu truyền rằng những đêm trăng thanh, gió lặng vẫn thấy hình bóng “thuyền Rồng” của các quan dưới đáy sông. Chỗ ấy nay gọi là “Vực Tơm” xã Như Thụy.
                             Sơn Đông. Ngày 27 tháng 7 năm 2012.
                                                  L. K. T.
Tài liệu tham khảo:
* Bài kí đề tên TS khoa Kỉ sửu niên hiệu Minh Đức năm thứ 03 1529).
* Đỉnh khế Đại Việt lịch triều đăng khoa lục.
* Đại Việt sử kí toàn thư. Bản khắc in năm Chính Hòa 18 (1697)
* Bản huyện cựu Lê đại khoa chư tiên sinh qua tước tính danh . Thác bản 16185.
* Lập Thạch huyện văn từ TS bi. Thác bản 15503.
* Bản huyện tiên hiền tính danh khoa thứ kí. Thác bản 14894.
* Tư liệu điền dã địa phương.

Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2013

NÚI SÔNG TỈNH VĨNH PHÚC.-Đôi điều về góc nhìn Địa văn hoá.


                                      

                   NÚI SÔNG TỈNH VĨNH PHÚC.
                                      Đôi điều về góc nhìn Địa văn hoá.
                             …………………………..
                            
                                                          LÊ KIM THUYÊN.
          Tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay, có 09 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm thành phố Vĩnh Yên thủ phủ, thị xã Phúc Yên, các huyện Bình Xuyên, Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường và Yên Lạc.
          Xét về nguồn gốc, đất đai tỉnh Vĩnh Phúc hầu hết là đất đai thuộc về phủ Tam Đái thừa tuyên Sơn Tây lập năm 1469 đời vua Lê Thánh Tông gồm các huyện Yên Lạc, huyện Lập thạch và huyện Vĩnh Tường. Cùng với huyện Bình Xuyên tách sang từ phủ Phú Bình tỉnh Thái Nguyên năm 1890; Huyện Tam Dương phủ Đoan Hùng cắt sang phủ Vĩnh Tường năm 1831 và một góc huyện Kim Anh nhập vào từ phủ Bắc Hà tỉnh Bắc Ninh năm 1901.
          Đó là một góc của xứ Đoài xưa.
          “ Xứ Đoài” là tên gọi về Sơn Tây thừa tuyên, tên Sơn Tây có từ đó. (1469).- (đổi thành “xứ” năm 1490. “trấn” năm 1514 và “tỉnh” năm 1831),là một trong “ tứ trấn” trọng yếu bao bọc lấy kinh thầnh Đông Đô – Hà Nội làm trung tâm.
- Xứ Bắc, nay là hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. ( Hà Bắc)
          - Xứ Nam, nay là các tỉnh Hà Đông thuộc Hà Nội mở rộng, trước kia gọi là Sơn Nam Thượng; Hà Nam, Hưng Yên, Nam Định Thái Bình, gọi là Sơn Nam Hạ.
          - Xứ Đông, nay gọi là Hải Dương và Hải Phòng. Sự diên cách thay đổi mỗi đời đại loại là như vậy.
          - Xứ Đoài, tức là Sơn Tây, nay là 03 tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ cùng tỉnh Sơn Tây cũ, sau sáp nhập với tỉnh Hà Đông thành tỉnh Hà Tây, nay đều thuộc Hà Nội mở rộng.
          Nếu lấy ngã ba sông Bạch Hạc làm trung gian thì:
          Góc tây – tây bắc là tỉnh Phú Thọ.
          Góc nam – tây nam là tỉnh Sơn Tây cũ.
          Và tỉnh Vĩnh Phúc là miền đất về phía đông – đông bắc của xứ Đoài, góc cận kề “thanh giáo” với kinh thành Thăng Long văn hiến xưa.
          Tuy nhiên, do là vùng trung du trước núi nên địa hình sinh thái (thời chưa có kênh đập thuỷ lợi ) xưa vãn chỉ là đa phần có cuộc sông thực:
          Chẳng đâu như tỉnh xứ Đoài
          Ăn cơm là ít, ăn khoai là nhiều.



          Đời Hán, ( 206 – 220 ) miền đất tỉnh Vĩnh Phúc da phần là đất của hai huyện Mê Linh và Chu Diên. Đời Tuỳ Đường (  581 – 907) là châu Phong, huyện Bạch Hạc,Vĩnh Tường ngaỳ nay là đất trung tâm của Châu Phong ấy.
          “Kể từ Hùng Lạc bấy lâu
          Tả hà vẫn đất Phong Châu còn truyền.”
                             ( Bài ca phong cảnh xã Thượng Trưng – Vĩnh Tường. )
Hay như:
          “18 đời công đức giời Nam, trải Đinh, Lê, Lí, Trần, Lê cho đến bản triều, hương khói ngạt ngào đền Cổ Tích.
          Bốn ngàn năm non Rồng nước cũ, kìa giữa Lô, Đà, Thao, Đảo, quay về Bạch Hạc, khí thiêng phảng phất cuối châu Phong.”
                             ( Câu đối đền Hùng Vương – Phú Thọ).
          Đền Cổ Tích tức là đền Thượng núi Nghĩa Lĩnh xã Hi Cương.
                                                      
   *
         
 Tỉnh Vĩnh Phúc, xét về cấu tạo địa chất, có 03 vùng địa hình:
-                     * Địa hình núi: Dãy Tam Đảo xuyên suốt phía bắc và đông bắc huyên Lập Thạch, Tam Đảo, Bình Xuyên thị xã Phúc Yên.
 * Vùng trung du và đồng bằng trước núi (đồng băng nhỏ dọc theo núí đồi), vốn là thềm của núi Tam Đảo, cũng xuyên suốt 04 huyên kể trên.
          Lênh đênh quán sót, đường ngang,
          Trở về gò Điệu, lại sang gò Đường.
                             (Ca dao xã Đạo Đức huyện Bình Xuyên )
hoặc như:
          Đồn rằng kẻ Gốm thâm vai,
          Cao Phong leo dốc l…dài tám gang.
                             ( Ca dao vùng nam Lập Thạch )
          Thâm vai vì gánh chợ hàng sáo.
Vùng đồng bằng châu thổ, diiển hình là hai huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc và nam phần huyện Bình Xuyên.
* Địa hình núi.
          Núi Tam Đảo là chủ sơn của tỉnh Vĩnh Phúc, là tính vượt trội trong diện mạo cảnh quan có 55 km độ dài từ địa đầu huyện Lập Thạch đến thị xã Phúc Yên thộc sơn phận tỉnh Vĩnh Phúc. Đó là con đường biên tự nhiên ngăn cách với hai tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên.
          Thuộc về địa phận xã Đại Đình huyện Tam Đảo, có 03 ngọn chót vót



nổi lên. “Sách Địa chí tỉnh Sơn Tây” chép: “ Trung vi Thạch Bàn, tả vi
Thiên thị, Hữu vi Phù Nghì, cố danh Tam Đảo”. ( Ngọn ở giữa là Thạch Bàn ngọn bên trái là Thiên Thị, bên phải là Phù Nghì. Nhân thế mà có tên Tam Đảo)
          Ngày nay đo dược độ cao:
- Thạch Bàn : 1420 m ( giữa )
- Thiên Thị : 1585m ( bên trái )
-  Phù Nghì : 1250 m ( bên phải ).
                             (Đinh Xuân Vịnh. “Sổ tay địa danh Việt Nam”.)
Tam Đảo thuộc hệ núi trẻ, cao trung bình, độ tuổi tiền Cambri, khoảng 500 – 570 triệu năm về trước. ( “Phân vùng kiến tạo miền Bắc Việt Nam”. Tài liệu của A. E. Dovjileov-Liên Xô) thuộc đới sông Lô, là một mặt phẳng có độ chia cắt sâu, uốn nếp dài theo hình chẽ ngón tay dài ra đến vịnh biển Hạ Long.
Từ thế kỉ XIX, danh sĩ Cao Bá Quát, đã nhận biết điều đó:
“Địa khống tam biên hoành nhất đái
Sơn liên thất huyện nhất tiên bàn”.
                             ( Cao Chu Thần thi tập)
(Đất chắn ba bề ngang một dải
Núi liền bảy huyện nhấp nhô bàn”.
          Còn sách “ Nhĩ hoàng di ái lục” lại miêu tả “…liên sơn luỹ chướng,
uyển diên bàn bạc lâm vu” (núi liền lớp lớp, rõ ràng dài rộng biết bao nhiêu). Các suối chảy từ vách núi dựng đứng rót xuống tao nên cảnh quan đẹp, như ở độ cao 1000m, ngon Thạch Bàn có thác nước với góc dựng đứng 80 độ cao trên đền lên đền Tây Thiên, bên khu nghỉ mát thị trấn Tam Đảo có suối Thác Bạc nổi tiêng.
          Tam Đảo cũng là miền nền bán bình nguyên, càng về phia đông càng lộ rõ, nên đã hình thành ở khu Máng Chì một thị trấn nghỉ mát Tam Đảo núi nổi tiếng ở xứ Bắc Kì lập năm 1904 và nay có cột tháp thu hình và khuếch đại thuộc hệ thống vô tuyến truyền hình Việt Nam ở độ cao 1250m, cao 95m nặng tới200 tấn.
          Kể từ thời xa xưa, Tam Đảo là dãy núi đã dược gọi là miền “danh sơn” của Bắc Bộ, thần núi được chép vào tự diển thờ cúng, thuộc về “hạo khí anh linh” của đất Việt. Mở đầulà dãy núi có vị thế rất quan yếu từ thời lập nước. Các bản ngọc phả Hùng Vương đều đã chép: Mạch núi từ bên trái núi Lôi Hà, theo mạch về đến các huyện Đong Lan,Sơn Dương, Đương Đạo, Tam Dương, chót vót nổi lên ba ngọn làm cung tiên con rồng bên trái, thông



đến xứ Kinh Bắc, Hải Dương, Đông Triều, núi Yên Tử, đến tận tám xã ở
giữa biển Đồ Sơn làm đầu rồng chầu về. Bên phải, từ sông Hán, sông Nhĩ Hà, sông Lô, sông Thao theo mạch mà chạy đến mười châu ở Tuyên Quang, Hưng Hoá, Nguyên Thanh, sông Bạn, sông Đà đến huyện Bất Bạt chót vót nổi lên ngọn Tản Viên làm cung tiên bên phải ( bạch hổ ). Đến Sơn Nam, Ái Châu, cửa biển Thần Phù lấy đảo Trà Sơn, Trà Lí ngoài biển làm đầu hổ chầu về. Sông Bạch Hạc làm “nội minh đường”, sông lớn ở Nam Xương( Lí Nhân Hà Nam) làm “ trung minh đường”, Nam Hải, Tượng Sơn làm “ngoại minh đường”; Nghìn núi cùng ngoảnh lại, van dòng đều chảy theo dòng nước chính, tất cả đều đổ về núi Nghĩa Lĩnh là núi Tổ, vẽ lên hình thế :
          Tây hưởng vu thiên: Tản, Đảo, Thao, Lô hợp tác nhất thiên vũ trụ.
          Nam tổ kì quốc : Đinh, Lê,Trần, Lí trường lưu ức tải dư đồ.
          Nghĩa là:
          Trời đất miền Tây: Tản, Đảo, Thao, Lô cùng họp một trời vũ trụ
          Nước tổ phương Nam: Đinh, Lê, Trần, Lí dài lâu muôn dặm dư đồ.
          Tam Đảo - Tản Viên ( chính xác là Ba Vì), hai ngọn đối nhau, hai đầu biên của “bộ chủ” Văn Lang, một trong 15 bộ của nước Văn Lang, có kinh đô Văn Lang, đời sau gọi là thành Phong Châu, thành Gia Ninh đều ở thôn Việt Trì, xã Bạch Hạc, huyện Bạch Hac, phủ Tam Đái thuộc Sơn Tây thừa tuyên đời Hồng Đức (1469).
          Sách “An Nam chí nguyên” chép về núi Tam Đảo: “…hữu tam phong đột khởi, kì cao tế thiên, dữ Tản Viên Sơn giác vọng tương lập, Giao chỉ chi danh sơn dã”. ( Ba ngọn nổi lên chót vót, cao đến tận trời. Cùng với núi Tản Viên, hai bên đối nhau, đều là danh sơn của Giao Chỉ).
          Tuy nhiên, giữa hai ngôi danh sơn này cũng có những dị biệt,
1.     Đối với dãy Tam Đảo.
Ngôn từ của các sách địa chí là “tam phong tủng bạt” nghĩa là ba ngọn chót vót cao tuột lên, rồi lại “ uyển diên bàn bạc lâm vu” ( rõ ràng dài rộng biết bao nhiêu). “Kiến văn tiểu lục” của tác giả Lê Quý Đôn ghi chép tỉ mỉ hơn “ ba ngọn cao vót đến tầng mây…phía sau núi vách đá dựng đứng, đỉnh núi thì đất đá lẫn lộn, cây cối rậm rạp xanh tươi…sườn núi có chùa cổ Tây Thiên, trúc xanh thông biếc, cảnh sắc thanh nhã rộng rãi…”.
Lại nữa : “Sơn thượng chi Vân Tiêu am, Song Tuyền am, Lưỡng Phong am, Bộ Vân thê, Đái Tử kiều chi loại, giai kì tuyệt. Nam Giao danh thắng chi địa, loại thử thượng đa”.
                   ( An Nam chí nguyên – sách đã dẫn)
( Trên núi có am Vân Tiêu, am Song tuyền, am Lưỡng Phong, thang



Bộ Vân, cầu Đái Tử, cảnh đẹp phương Nam có đâu hơn thế ).
          Như vậy là Tam Đảo có cảnh, có tình, có vật, có linh.
- Có cầu Đái Tử là cầu ôm con.
- Có thang Bộ Vân là cầu bước trên mây.
Các chữ Vân Tiêu nghĩ là “trên mây”, Song Tuyền là “ hai ngọn suối cùng chảy song song nhau”, Lưỡng Phong là “ hai chỏm núi”- cảnh trí được mô tả, được tư duy đến như thế là cung, tạo nên một cảnh sắc riêng của Tam Đảo. Công việc là làm sao tái hiện bằng ngôn ngữ sắc mầu của hội hoạ, của âm nhạc. của thi ca là việc làm của các văn nghệ sĩ.
2.     Đối với núi Ba Vì ( Tản Viên )
Cũng các sách địa chí chép; “ Tam phong tủng tú, hình như trương tản , cố danh”. Nghĩa là : Ba ngọn cao đẹp, mở ra như cái tán, nhân thế mà thành tên. Hoặc là: “ Ba ngọn cao vót, hình tròn như cái tán, cảnh sắc xanh tươi, hình thế cao cả, như trấn giữ đất nước, ngọn giữa rất cao…bốn mặt có sông bao bọc, cây cối um tùm, hình thế sáng đẹp”
                                               “Đại Nam nhất thống chí”
Rõ ràng  về cấu trúc hình thể và cảnh sắc, hai núi hoần toàn khác nhau. Sự khác nhau ấy, kể cả đến môi trường sinh thái, đến cái không gian văn hoá xứ Đoài.
“Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm”
(Baì thơ “ Tây tiến” của Quang Dũng. Dẫn theo cố Giáo Sư Trần)

Mây Tam Đảo- mây Ba Vì- mây của xứ Đoài trong không gian tâm linh Việt, trường tồn với non sông nức Việt. “ Nước cũ bởi vì đâu, giang sơn xây dựng quên nao, nào Hán,Tống, nào Nguyên ,Minh, công cuộc tang thương, đất Việt vững bền ơn Thánh Tổ ; Khí thiêng còn lại đó, lăng miếu ngạt ngào hương khói, này Thao, Lô, Tản, Đảo bức tranh sơn thuỷ, Châu Phong in đậm dấu Thần Tiên.” (Câu đối đền Hùng Vương).
* Địa hình sông:
Nếu nói Tam Đảo tạo nên miền núi và trung du sinh thái “ làng đồi” của tỉnh Vĩnh Phúc, mà thành phố Vĩnh Yên hiện tại là bậc thềm đồi cuối,
Cùng huyện Tam Dương cũng là một bản sắc “ làng đồi” ( lị sở tỉnh Vĩnh Yên năm 1899 ở trên núi Yên Sơn – nay là cơ quan tỉnh Đảng bộ Vĩnh Phúc) :
          “ Huyện Tam Dương có ba con dê, đứng núi đá trông về Lập Thạch”
                                                ( một vế ra đối chưa dược đối )
thì tỉnh Vĩnh Phúc còn một nửa là sông.. Hay nói đúng hơn là nửa phần đất, nửa phần nước cách nay 6000năm, về sau tạo thành vùng “ tiểu châu thổ”



Vĩnh Tường, Yên Lạc, Yên Lãng cũ trong cái “đại châu thổ” đồng bằng Bắc Bộ của hệ thống sông Hồng ( Lô – Đà – Thao ) và sông Thái Bình ( Cầu – Thương - Lục Nam ), trong đó có hai sông Thiên Đức và Nguyệt Đức là những mạch nối.
          Đỉnh của tam giác châu “ tiểu đồng bằng” và “đại đồng bằng” đó, đều là Việt Trì - Bạch Hạc.
          Bạch Hạc xã - Bạch Hạc huyện từ năm 1945 là huyện Vĩnh Tường đã được chép vào sách “ Lĩnh Nam chích quái” ở thế kỉ XV:
          “Ở đất Phong Châu đời thượng cổ có một cây lớn, gọi là  chiên đàn cao hơn “ nhận” (đơn vị đo lường đời cổ) cành lá rập rạp, có chim hạc làm tổ ở trên, cho nên gọi đất ấy là Bạch Hạc (chim hạc trắng), cây đó sống đã lâu, không biết mấy nghìn năm”.
          Sử “Toàn thư” xác nhận, năm 1469 vua Lê Thánh Tông chính thức lấy địa danh làng Bạch Hạc ( nơi có cây chiên đàn) đặt thành địa danh cấp huyện thuộc phủ Tam Đái xứ Đoài ( Sơn Tây ). Đó là miền “ khí thiêng sông núi”, “hạo khí anh linh” nơi đất tổ vua Hùng. Hình tượng con chim lạc –con cò – ( có người bảo là “ lạc”) trên các trống đồng Ngọc Lũ, là hình tượng của loài chi nửa đất, nửa nước hẳn có nguồn gốc từ đây.

          Hãy bắt đầu đi tìm các con sông của Vĩnh Phúc.
 1.Sông Bạch Hạc.
Đoạn sông Hồng bắt đầu từ ngã ba Việt Trì - Bạch Hạc đén địa đầu thủ đô Hà Nội cũ, ôm lấy tỉnh Vĩnh Phúc về phía tây nam.Con sông nổi tiếng về lưu lượng phù sa, là con sông chủ lực tạo nên đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, thường gọi là châu thổ sông Hồng. Đoạn sông ấy có tên chép trong các sách địư chí cổ là “ sông Bạch Hạc”. “Bạch hạc giang, hoặc xưng Tam Kì giang, hoặc xưng Tam Giang, tại Bạch Hạc, Bạch Hạc xã. Nãi Thao Lô hợp lưu, chí Hà Nội tỉnh vi Nhĩ Hà”.(Xem “ Sơn Tây tỉnh chí”)
( sông Bạch Hạc, còn gọi là sông Tam Kì, hoặc gọi là Tam Giang, ở xã Bạch Hạc, huyện Bạch Hạc, là chỗ hợp dòng của sông Thao, sông Lô, đến tỉnh Hà Nội gọi là sông Nhĩ Hà).
Sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: Sông Bạch Hạc, từ ngã ba Bạch Hạc đến Hà Nội làm sông Nhị. Có tên nữa là Tam Giang, thời thuộc Minh đặt phủ Tam Giang, tên thành Tam Giang là gốc từ đấy.
                                        (Xem mục Sơn Xuyên - tỉnh Sơn Tây)
Việt sử thông giám cương mục thì cho rằng:
Sông Bạch Hạc ở địa phận huyện Bạch Hạc tỉnh Sơn Tây. Sông này phía trên giáp với sông Thao, sông Đà, phía dưới thông với sông Phú Lương.
                                        (chính biên, quyển VII)
Xưa hơn, là sách An Nam chí nguyên ở thế kỉ XV chép:
“ Bạch Hạc giang, tại Tam Đái Châu - Thượng hữu Thao giang, Đà giang, Tuyên giang, tam thuỷ hợp lưu vu thử. Hạ thông Lô giang”.
                                       (mục Sơn Xuyên)
( Sông Bạch Hạc, ở châu Tam Đái. Trên có sông Thao, sông Đà, sông Tuyên, ba dòng hợp lưu ở đấy. Dưới thông với sông Lô).
Hãy xem sách “Nhĩ hoàng di ái lục”. Giải thích về sông Nhĩ Hà: “ nhất danh Lô giang, nhất danh Phú Lương giang, tại Đại La thành chi tả…”.
( Có một tên là sông Lô, một tên là sông Phú Lương, ở về bên trái thành Đại La).
Thành Đại La nay thuộc vào thành phố Hà Nội. Như vậy, con sông Lô thời thuộc Minh (1406-1427) về trước là sông Nhĩ Hà, nơi mà Nguyễn Thuyên ở đời Trần đọc bài “tế Lô giang ngạc ngư văn” (văn tế cá sấu ở sông Lô) là ở bên trái thành Thăng Long -bờ sông hồng hiện nay. Còn sông Lô thời nay, thời ấy gọi là sông Tuyên, chỉ đoạn sông từ thị xã Tuyên Quang về đến ngã ba Phú Hậu xã Sơn Đông ( phía trên cầu Việt Trì).
Vậy là, sông Bạch Hạc, con sông chính của tỉnh Vĩnh Phúc – con sông được liệt vào hàng “đại xuyên” (sông lớn), thần sông được liệt vào tự điển thờ cúng, chép vào sử sách. Cũng như sông Thao, tức sông Hồng đoạn chảy từ Yên Bái đến ngã ba Việt Trì là sông chính của tỉnh Phú Thọ.
Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) từng có cảm nhận khi qua lên miền tây – Tôi muốn giới thiệu bài BẠCH HẠC GIANG TRUNG:
Chỉ cái can trường sinh thiết thạch
Khởi tương đầu giác oán hi nga
Thử hành trần thế quan tâm thiểu
Duy hữu đông lưu cảm khái đa.
Dịch:
Trên sông Bạch Hạc
Chỉ quý lòng son như sắt đá
Há vì tài mọn oán trời cao
Chuyến này việc thế quan tâm ít
Cuồn cuồn dòng sông cảm khái nhiều.
                                    (Lời dịch của Mai Xuân Hải- Viện nghiên cứu                                     Hán Nôm- Hà Nội)
Dòng sông cuồn cuộn chảy bồi thổ nên đồng bằng tỉnh Vĩnh Phúc bên tả ngạn, tạo nên một nửa phần tỉnh Vĩnh Phúc về đất đai, tạo nên nguồn nội lực - sức mạnh nội sinh cho toàn tỉnh. Hơn thế, còn tạo nên tích cách người Vĩnh Phúc, diện mạo văn hoá cộng đồng lòng đồng bằng Vĩnh Phúc.
Chẳng chua cũng kể là chanh
Chảng ngon cũng thể cam sành chín cây
Muốn cho có đó có đây
Sơn lâm chưa dễ một cây nên rừng.
                                          ( Ca dao cổ xứ Đoài)
2.Sông Cà Lồ (Nguyệt Đức)
Địa danh thường chép trong thư tịch. Người Vĩnh Phúc quen gọi là sông Cà Lồ, một tên Nôm trăm phần, chưa rõ nguồn gốc. Đó là phân lưu của sông Bạch Hạc có cửa phát nguyên từ xã Trung Hà huyện Yên Lạc, chảy qua các huyện Yên Lạc, Yên Lãng đến tỉnh Bắc Ninh thì đổ vào sông Lục Đầu.
                                                                       ( Sơn Tây tỉnh chí)
Ở thời chưa có đê, thì nước sông Nguyệt Đức thường năm vẫn tải phù sa trải đều cho đồng ruộng châu thổ của Vĩnh Phúc, tăng bổ cho sự trù phú vốn có của miền này, từng được ghi nhận vào hồn thiêng sông núi quê hương:
“Tước lĩnh dục anh linh, thông minh nhi nhất.
  Đức giang lưu khải trạch, cao hậu vi tam”.
          (Câu đối đền Hạ làng Can Bi, huyện Bình Xuyên, thờ vị nữ tướng thời Hai Bà Trưng)
Sông Nguyệt Đứccoa một chi lưu là sông Sơn Tang mà sách Đại Nam nhất thống chí chép là: “Khe huyện Yên Lạc”: ở cách huyện lị 25 dặm về phía tây bắcphát nguyên từ địa phận xã Long Trì, thuộc tổng Đạo Tú huyện Tam Dương, chảy quanh co về phía Nam, qua xã Tây Quan đến địa phận huyện Bạch Hạc lại chảy bẻ sang phía đông, vòng quanh huyện hạt 74 dặm, đến địa phận xã Thịnh Kỉ huyện Yên Lãng rồi đổ vào sông Nguyệt Đức. Cũng còn gọi là sông Phan.
Huyện lị Yên Lạc đời Nguyễn nay gọi là thị trấn huyện, ở xã Minh Tân, thủ phủ của huyện.
Lại xét, Địa chí huyện Kim Anh (“ Kim Anh huyện dư địa chí”) thì sông Nguyệt Đức mang địa danh Bình Lỗ, nơi mà Lê Hoàn đắp thành Bình Lỗ chống quân xâm lược Tống năm 981. Là đoạn sông chảy qua huyện Yên Lạc cũ đến huyện Kim Anh, từ xã Đa Phú đến xã Lương Phú, xã Yên Phong, xã Phương La, cùng với sông Nguyệt Đức ( người Phúc Yên cũ hay địa danh Cà Lồ) hợp với sông Cầu ở ngã ba Sa.
Sông này, đã được đào vét từ đời Lí (1010-1225), đến năm Thái Hoà thứ 7 (1449), vua Nhân Tông nhà Lê cho đào vét thêm một đoạn. Sử toàn thư chép: “Sai tư khấu Lê khắc phục đem người các cụ Bách Tác, quân vệ Thiên Quan, Tứ Sương và quân dân trấn Thái Nguyên (cũ) đào lại sông Bình Lỗ, từ Lãnh Canh đến Phù Lỗ (nay thuộc về Hà Nội-LKT) dài 2500 trượng (khoảng 10km. LKT) thông với sông Bình Than (tức sông lục Đầu ở bến Bình Than-LKT) để tiện việc đi lại với trấn Thái Nguyên”.
                                                     (Bản Kỉ - quyển XVI)
3.Sông Loan (Loan giang)
Chữ “Loan” có nghĩa là nước chảy vòng, là vụng sông.
Con sông này còn dấu tích ở thôn Đông xã Minh Tân huyện Yên Lạc, trước núi Biện (Biện sơn), nay đặt chùa Biện (Biên sơn tự).
Đền Gia Loan (Gia loan từ )là bến đò sông Loan xưa, thời xứ quân Nguyễn Khắc Khoan.
Con sông đã tắt dòng, nhưng vẫn còn trong từ chương, còn với văn hoá:
Tú dục Loan giang khai đạo mạch
Anh chung Biện lĩnh xuất Nho khoa
          ( câu đối từ đường họ Dương – thôn Đông)
(Đẹp đẽ dòng Loan, khơi mạch đạo
Thiêng liêng núi Biện, phát khoa Nho)
Hoặc:
          Loan thuỷ lưu phương ngư hiến ngọc
Biện sơn dẫn mạch địa chung linh
                                     ( câu đối đền Gia Loan)
(Thơm nức dòng Loan, cá dâng ngọc
Mạch về núi Biện, đất ngời thiêng)
Sông Loan, núi Biện cùng với một thời chứng tích về sứ quân Nguyễn Khắc Khoan, tạo nên cảnh quan một vùng đựpc gọi là Nguyễn Gia Loan:
“Nhất danh Độc nhĩ sơn, nhất danh Biện sơn, tại An Lạc huyện: Vĩnh Mỗ xã địa phận. Bình địa đột khởi thổ đồi, hình như phục tượng. Hạ lâm thâm trạch, Nguyễn sứ quân cứ Tam Đái, đô vu thử, nhân danh Nguyễn Gia Loan”.
                                   ( Sơn tây tỉnh chí)
(Một bên là núi Một tai, một bên là núi Biện, ở địa phận xã Vĩnh Mỗ, huyện Yên Lạc giữa đất bằng nổi lên đồi đất, hình như voi quỳ. Dưới có đâmd sâu, Nguyễn Sứ quân chiếm Tam Đái, đóng đô ở đấy, vì thế có tên là Nguyễn Gia Loan).
Loan giang – cùng với bạch Hạc giang - Nguyệt Đức giang tạo nên Tam Đái - trở thành địa danh lịch sử từ thời Sứ quân (966-968), một “tiểu triều đình” tạo nên bởi ba dải sông (nguyên nghĩa chữ “đái” là cái đai), nên sự trù phú:
“Nhất Tam Đái, nhì Khoái Châu”.
Năm 1469, vua Lê Thánh Tông thành lập phủ Tam Đái gồm 6 huyện: Bạc Hạc, Lập Thạch, Phù Ninh, Tiên Phong, Yên Lạc và Yên lãng, là cốt cán phủ Vĩnh Tường năm 1822 đời Minh Mệnh, mà Yên Lạc – nơi thủ phủ - là một huyện nổi danh:
“Nam Châu, bắc Dũng, đông Kì, tây Lạc”.
Nghĩa là bốn huyện nổi tiếng về của cải giầu có, cư dân đông đúc (nhân đa vật thịnh): huyện Châu Ninh tỉnh Nam Định; huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang, huyện Tứ Kì tỉnh Hải Dương ở xứ đông, huyện Yên Lạc ở Sơn Tây (xứ Đoài).
Vậy xứ Đoài, điểm “tụ thuỷ” TAM GIANG (Đà -Thao – Lô ở Bạch Hạc) để dẫn đến điểm “tụ nhân” Việt Trì - Bạch Hạc, mở ra không gian Việt, định hình quốc gia Văn Lang Việt Trì thì TAM ĐÁI điểm tụ thuỷ, tụ nhân làm nên cảnh quan làng đồng bằng – văn hoá làng đồng bằng tỉnh Vĩnh Phúc:
Đầu đình có giếng phong quang
Có cây cổ thụ, có hàng nghỉ ngơi
Chợ Dưng mồng 6 tiệc vui
Bốn phương náo nức đến chơi Chợ làng.
                 ( Ca dao xã Tứ Trưng huyện Vĩnh Tường)
Hoặc như:
Đừng về đường ấy mà xa
Đi về Đinh Xá với ta cho gần
Đinh Xá có giếng rửa chân
Có sông tắm mát lại gần chợ phiên
Chợ Lồ một tháng sáu phiên
Ngày tư ngày chín là phiên chợ Lồ.
                                   ( Ca dao huyện Yên Lạc)
Để tạm dừng, xin có một thông tin thay cho lời kết:
Tam Đảo – Tam Đái, một nửa núi - một nửa sông.
(51 điểm thờ cúng thần Tam Đảo – 51 điểm thờ cúng thần sông Bạch Hạc chép vào tự điển bộ lễ triều Lê – có lẽ trong dân gian sẽ không “ công bằng” như thế) đã tạo nên:
-Không gian tỉnh Vĩnh Phúc.
-Lãnh địa tỉnh Vĩnh Phúc.
-Trường sinh thái môi sinh – văn hoá tỉnh Vĩnh Phúc, là cốt lõi tâm linh nguồn cội người Vĩnh Phúc.
Đó là những gì thuộc về núi sông tỉnh Vĩnh Phúc – non nước ngàn năm.
L.K.T